Chủ Nhật, 4 tháng 6, 2017

Y học tái sinh là gì?

http://www.benhvienthongminh.com

Tế bào gốc và Y học tái sinh

Tất cả các loài thực vật và động vật đa bào đều dựa vào tế bào gốc để từ một tế bào đơn lẻ đầu tiên, tức một hợp tử, phát triển thành một cá thể trưởng thành. Ở người, sự phân bào sớm của phôi tạo ra phôi dâu (3 - 4 ngày sau thụ tinh) là một khối đặc gồm 16 tế bào hình cầu, tiếp theo là phôi nang (4 - 5 ngày sau thụ tinh) có một xoang với một khối tế bào bên trong tức là đĩa phôi. Đĩa phôi sẽ phân lớp thành: ngoại bì phôi sẽ tạo ra biểu bì da, hệ thần kinh; trung bì phôi sẽ tạo ra cơ, sụn, xương, mô liên kết, hệ tuần hoàn, bạch huyết và các tế bào máu, nội mô của mạch máu và các xoang, biểu bì của hệ niệu - sinh dục; và nội bì phôi sẽ tạo ra gan, tụy, phổi… Giai đoạn phôi kết thúc vào cuối tuần lễ thứ 8, tiếp theo là giai đoạn thai kéo dài cho đến khi sinh ra ngoài.

 

 
Tế bào gốc là gì?


 
Các tế bào gốc là những vật liệu thô nguyên bản của cơ thể - những tế bào mà từ đó sinh ra tất cả các loại tế bào khác của cơ thể có chức năng chuyên biệt. 
 
Trong các điều kiện thích hợp của cơ thể hay của phòng thí nghiệm, các tế bào gốc phân chia để tạo ra nhiều loại tế bào được gọi là các tế bào con. Những tế bào con này hoặc trở thành các tế bào gốc mới (sự tự đổi mới) hoặc trở thành các tế bào chuyên biệt (sự biệt hóa) có chức năng đặc hiệu hơn để tạo ra nhiều loại tế bào và mô của cơ thể, thí dụ các tế bào máu, các tế bào não, cơ tim hay xương… Tế bào gốc cũng có thể liên tục thay thế nhiều loại tế bào khác nhau trong cơ thể khi chúng bị mất đi hoặc bị tổn thương. Không một tế bào nào khác của cơ thể, ngoài các tế bào gốc, có khả năng tự nhiên sinh ra các loại tế bào mới.
 
Tế bào gốc đến từ đâu?
Các tế bào gốc đến từ những nguồn sau đây:

 
Các tế bào gốc phôi. Trứng thụ tinh (hợp tử) là tế bào gốc toàn năng đầu tiên, từ đó sẽ tạo ra một cá thể hoàn chỉnh cùng với nhau thai. Trong những giờ đầu tiên sau thụ tinh, vài lần phân bào đầu tiên sẽ xảy ra và tạo ra nhiều hơn các tế bào toàn năng đồng nhất, phôi lúc bấy giờ được gọi là phôi dâu. Sau thụ tinh 4 ngày, đến giai đoạn 16 - tế bào của phôi dâu, các tế bào toàn năng này bắt đầu biệt hóa để trở thành các tế bào gốc đa năng. Phôi dâu chuyển thành phôi nang, gồm khoảng 50 - 150 tế bào. Phôi dâu có một xoang với một khối tế bào bên trong và một lớp các dưỡng bào bên ngoài. Khối tế bào bên trong tức đĩa phôi gồm những tế bào gốc đa năng, sẽ phân lớp và tạo ra các tế bào chuyên biệt để trở thành tất cả các loại tế bào của cơ thể. 
Các tế bào gốc đa năng có thể phân chia thành nhiều tế bào gốc đồng nhất hay có thể biệt hóa thành bất cứ loại tế bào nào khác của cơ thể. Tính linh hoạt này khiến cho các tế bào gốc phôi có thể dùng để tái sinh hoặc sửa chữa mô và các tạng bị tổn thương, mặc dù trên người đến nay vẫn còn nhiều hạn chế như đối với bệnh thoái hóa hoàng điểm. Ngoài ra, vì có nguồn gốc lấy từ thai người nên việc sử dụng các tế bào gốc phôi phải tuân thủ chặt chẽ các qui định về đạo đức học: chỉ được phép sử dụng tế bào gốc từ phôi tạo ra trong ống nghiệm khi người ta không còn cần đến các phôi đó lâu hơn nữa, và phải được sự đồng ý của người cho (theo Bản hướng dẫn của các Viện Y học Quốc gia năm 2009 về nghiên cứu tế bào gốc).

Các tế bào gốc trưởng thành. Người ta tìm thấy một số ít các tế bào gốc này trong đa số các mô trưởng thành, ví dụ như trong tủy xương hay mô mỡ. Một tế bào gốc trưởng thành là một tế bào gốc đa năng có giới hạn được dùng để thay thế cho các tế bào chết hay mất chức năng. Đó là một tế bào không biệt hóa có trong một mô biệt hóa. Nó có thể tự đổi mới và có thể biệt hóa để trở thành các loại tế bào có trong mô mà nó xuất phát. Được tìm thấy ở nhiều loại mô: tạo máu, thần kinh, nội mạc, cơ, trung mô, đường tiêu hóa và biểu bì. Đã được sử dụng có hiệu quả trong ghép tủy xương 30 năm nay, tế bào ghép là các tế bào gốc tạo máu. So sánh với các tế bào gốc phôi, các tế bào gốc trưởng thành có khả năng hạn chế hơn trong việc sinh ra các tế bào khác nhau của cơ thể. Các tế bào gốc trưởng thành cũng như các tế bào gốc trong máu cuống rốn được xem là đa năng có giới hạn.
Cho đến gần đây, các nhà nghiên cứu vẫn cho rằng, các tế bào gốc trưởng thành cũng chỉ có thể tạo ra các loại tế bào tương tự có liên quan. Ví dụ, họ cho rằng các tế bào gốc có trong tủy xương chỉ có thể tạo ra các tế bào máu. Tuy vậy, gần đây có bằng chứng cho thấy các tế bào gốc trưởng thành cũng có thể tạo ra các loại tế bào không liên quan, ví dụ các tế bào gốc của tủy xương có thể biệt hóa thành các tế bào xương, tế bào thần kinh hay tế bào cơ tim. 

Các tế bào trưởng thành biến đổi để có các đặc tính của các tế bào gốc phôi. Các nhà khoa học đã có thể làm biến đổi có kết quả các tế bào trưởng thành thông thường thành ra các tế bào gốc đa năng bằng cách tái lập trình gen. Bằng cách biến đổi các gen trong các tế bào trưởng thành, các nhà nghiên cứu có thể tái lập trình các tế bào để có hoạt động tương tự như các tế bào gốc phôi. Kỹ thuật mới này giúp tránh được việc hệ miễn dịch thải loại các tế bào gốc mới. Tuy nhiên, vẫn còn chưa biết liệu các tế bào trưởng thành biến đổi có gây ra các hiệu quả bất lợi nào trên người hay không?
Các nhà nghiên cứu đã có thể lấy các tế bào của mô liên kết thông thường và tái lập trình để tạo ra các tế bào tim hoạt động. Trong nghiên cứu, các động vật suy tim được tiêm các tế bào tim mới cho thấy chức năng tim vả thời gian sống thêm được cải thiện.

Các tế bào gốc chu sinh. Các nhà nghiên cứu đã phát hiện các tế bào gốc trong dịch ối thêm vào các tế bào gốc trong máu cuống rốn. Các tế bào gốc này có khả năng biến đổi thành vài loại tế bào đặc hiệu, vì vậy, máu cuống rốn có thể được lưu trữ để sử dụng về sau cho những người có nhu cầu điều trị tế bào gốc. 
 
Điều trị bằng tế bào gốc (hay y học tái sinh) là gì và hoạt động ra sao?
Điều trị bằng tế bào gốc, hay còn gọi là y học tái sinh, xúc tiến việc tái tạo các mô bị bệnh, bị mất chức năng hay bị tổn thương bằng cách sử dụng các tế bào gốc hay các tế bào đã được biệt hóa. Đó là chương tiếp theo của ghép tạng, sử dụng các tế bào thay cho các tạng hiến tặng được cung cấp có giới hạn.
 

 
Từ lâu, y học đã biết sử dụng các tế bào gốc có trong tủy xương hoặc trong máu cuống rốn để điều trị các bệnh về máu, ví dụ như bệnh ung thư bạch cầu. Người ta cũng đã thực nghiệm dùng các tế bào gốc trưởng thành để chữa các bệnh xương - khớp, ung thư và một số bệnh khác, kể cả các bệnh do thoái hóa, ví dụ như suy tim.
 
Tiềm năng sử dụng các tế bào gốc phôi trên người là rất lớn. Con người đã biết cách để hướng những tế bào này biệt hóa thành các loại tế bào đặc hiệu đáp ứng các mục tiêu điều trị khác nhau. Tuy nhiên, các tế bào gốc phôi cũng có thể phát triển không bình thường hoặc biệt hóa thành các loại tế bào khác nhau một cách tự phát, có thể xảy ra nhiều hậu quả chưa được lường hết hay thậm chí bị cơ thể thải loại.
 
Liệu pháp sinh sản vô tính (LPSSVT) là gì, và các lợi ích ra sao? LPSSVT, còn gọi là chuyển nhân tế bào soma, là một kỹ thuật tạo ra các tế bào gốc biến đổi không xuất phát từ các trứng được thụ tinh. Trong kỹ thuật này, nhân trong có chứa vật liệu di truyền được lấy ra khỏi một noãn bào không thụ tinh và thay thế bằng nhân cũng được lấy ra từ tế bào soma của động vật cho.
 
Tế bào trứng được chuyển nhân phân chia mạnh và sớm tạo ra phôi nang. Quá trình này tạo ra một dòng tế bào gốc đồng nhất về mặt di truyền với động vật cho – thực chất là một dòng vô tính. Các tế bào gốc vô tính dường như ít bị thải loại hơn - so với các tế bào gốc từ các trứng thụ tinh, một khi đem ghép trở lại vào động vật cho.
 
Hiện tại, LPSSVT chưa thể thực hiện thành công trên người như ở một số loài khác. Tuy vậy, trong các công trình mới đây, các nhà nghiên cứu đã tạo ra các tế bào gốc đa năng của người bằng cách sửa đổi quá trình tiến hành LPSSVT. 
 
“Liệu pháp tế bào”, “Công nghệ mô” & “Y học tái sinh”
Y học tái sinh là một lĩnh vực nhiều chuyên ngành để tạo ra các tế bào, các mô và các tạng hoạt động nhằm khôi phục và thay thế cho mô hay tạng bị mất chức năng do tổn thương hoặc do các khiếm khuyết bẩm sinh, bệnh tật và tuổi tác. Y học tái sinh bao gồm điều trị tế bào gốc, công nghệ mô và vật liệu sinh học chung nhau dưới cái ô của y học tái sinh. Y học tái sinh ngày nay được ứng dụng rộng rãi trong rất nhiều lĩnh vực của y học. Leland Kaiser đã giới thiệu thuật ngữ “Y học tái sinh” từ năm 1992. Ông đã dự đoán trước rằng “một ngành mới của y học sẽ phát triển để cố gắng tạo ra sự thay đổi trong điều trị các bệnh mạn tính cũng như tái tạo lại các tạng bị tổn thương hay bị hư hỏng”. Tiếp sau đó, các nhà khoa học trên toàn thế giới đã có những phát triển dựa trên cơ sở tế bào để tái tạo lại các mô bị tổn thương, thậm chí thay thế cả các tạng trong cơ thể.
 

 
Y học tái sinh bao gồm 2 phương pháp chủ yếu trong điều trị dựa trên cơ sở tế bào. Phương pháp đầu tiên được gọi là “liệu pháp tế bào”: các tế bào gốc hay các tế bào dẫn suất thích hợp được bơm vào vùng bị tổn thương hoặc vào máu để thay thế cho các tế bào bị tổn thương nhằm phục hồi lại sự toàn vẹn và chức năng của mô. Phương pháp thứ 2 phức tạp hơn được gọi là “công nghệ mô”: các tế bào được gắn kết với nhau trong một chất nền 3 chiều có cấu trúc dưới dạng mô (thường được gọi là giàn 3 - D) để thay thế cho các phần hoặc thậm chí là cả một tạng bị mất hay bị hư hỏng.
 
Một trong các ví dụ thành công nhất của “liệu pháp tế bào” là cấy ghép tế bào gốc tạo máu có trong tủy xương. Kỹ thuật này đã được áp dụng trong ba thập kỷ gần đây để điều trị các bệnh nặng của hệ tạo máu. Các tế bào gốc tạo máu được đưa vào vòng tuần hoàn máu của người bệnh, điều thú vị là chúng tự tìm đường để đi vào tủy xương nhờ một hiện tượng được gọi là “trở về nhà” với sự đóng góp quan trọng của các chemokines. 
 

 
Tuy nhiên, liệu pháp tế bào đơn thuần không đủ để phục hồi được các khuyết hổng lớn của mô hoặc khi cần phải thay thế cả một tạng của cơ thể. Khi đó phải vận dụng đến “công nghệ mô” là một chiến lược đầy hứa hẹn. Khởi đầu của công nghệ mô là thiết kế một bộ giàn 3 - D, bằng các protein hay các chất dẻo, mô phỏng cấu trúc của chất nền ngoại bào đặc trưng của mô. Sau đó, các tế bào được lựa chọn sẽ được tiêm vào, có kèm theo hay không một côctay các yếu tố tăng trưởng. Nếu môi trường phù hợp, mô sẽ phát triển. Cho đến nay, điều trị bằng công nghệ mô hãy còn chưa đến được với nhiều người bệnh. Nguyên nhân là do vấn đề tái tạo mạch máu của mô mới (“mô công nghệ”) còn chưa giải quyết được. Công nghệ mô chỉ mới thành công cho những người bệnh cần sự thay thế các tạng rỗng có đường kính nhỏ (như khí quản, bàng quang) hoặc cho vài loại mô không có mạch máu, ví dụ như sụn khớp mà chỉ sự thẩm thấu cũng đủ để duy trì sự tồn tại của tế bào.
 
Phương pháp y học tái sinh cũ thực hiện từng bộ phận
Công nghệ mô nhằm tạo ra các thành phần tương đương với mô tự nhiên (như mạch máu, cơ tim, dây thần kinh, sụn, xương và các tạng khác) hay các thành phần tái sinh trong phòng thí nghiệm để sử dụng thay thế cho các mô bị hư hại do bệnh hoặc do chấn thương. Công nghệ mô là một lĩnh vực bao quát nhiều ngành học thuật, nhiều nguyên lý khoa học từ sinh học, hóa học, điện học, vật liệu cho đến sinh cơ học để sử dụng vào nghiên cứu và phát triển. Những khái niệm và phát minh từ các lĩnh vực của sinh học phân tử và tế bào, sinh lý học và miễn dịch học cũng được kết hợp trong các hoạt động nghiên cứu của công nghệ mô. Hiểu biết và hướng dẫn sự biệt hóa cùng các chức năng của tế bào gốc là những lĩnh vực mới của công nghệ tế bào và mô.
 
Các thuật ngữ chuyên môn Việt – Anh sử dụng trong bài: công nghệ mô (tissue engineering), liệu pháp sinh sản vô tính (therapeutic cloning), liệu pháp tế bào (cell therapeutics), ngoại mô phôi (ectoderm), nôi mô phôi (endoderm), phần tử nhạy sinh học (biosensors), phôi dâu (morula), phôi nang (blastocyst), sự biệt hóa (differentiation), sự chuyển nhân (nuclear transfer), sự chuyển nhân tế bào soma (somatic cell nuclear transfer), tái lập trình gen (genetic reprogramming), tế bào gốc (stem cells), tế bào gốc chu sinh (perinatal stem cells), tế bào gốc đa năng (pluripotent stem cells), tế bào gốc đa năng có giới hạn (multipotent stem cells), tế bào gốc phôi (embryonic stem cells), tế bào gốc tạo máu (hematopoietic stem cells), tế bào gốc toàn năng (totipotent stem cells), tế bào gốc trưởng thành (adult stem cells), tế bào trưởng thành biến đổi (adult cells altered), trở về nhà (homing), trung mô phôi (mesoderm), tự đổi mới (self-renewal), y học tái sinh (regenerative medicine).

 
TS BS Bùi Hồng Thiên Khanh
ThS BS Mai Thanh Việt
Ở nước ta, y học tái sinh là thuật ngữ ít người biết, hiện nay chỉ có công ty TNHH Sức Khỏe Tuyệt Hảo( benhvienthongminh.com) đang áp dụng phương pháp này. Tuy nhiên, ở các nước phát triển, y học tái sinh đang phát triển một cách mạnh mẽ và sẽ là xu thế phát triển của y học thế giới.

Bộ Quốc phòng Mỹ đã đầu tư hơn 250 triệu USD vào nghiên cứu y học tái sinh trong thập kỷ qua, phục vụ cho mục đích chữa thương cho quân nhân. Các nghiên cứu đã tạo ra tiến bộ to lớn trong việc chữa trị vết bỏng với việc sử dụng da mới được tái tạo từ công nghệ tái sinh, chẳng hạn như công nghệ StrataGraft. Với những phương pháp thay da từ công nghệ này, sẽ không cần đến da từ người hiến nữa.

Kenneth Poss là giáo sư sinh học tế bào của trường Đại học Duke, đồng thời cũng là giám đốc chương trình nghiên cứu y học tái sinh và là điều tra viên cao cấp của một nghiên cứu về tái sinh tủy sống ở cá dọc ngựa. Ông và đồng nghiệp đã có phát hiện mới về khả năng tái sinh xương sống và tế bào ở cá dọc ngựa, và đang tiếp tục phát triển để áp dụng vào con người.

Poss nói: "Y học tái sinh tìm cách tái phát triển mô khỏe mạnh mà không cần cấy ghép. Trên quy mô toàn cầu, chúng ta đang thiếu rất nhiều bộ phận cơ thể cho bệnh nhân, cấy ghép là một giải pháp tốn kém và không thường trực.”

“Chúng ta sẽ thấy sự phát triển của phương pháp điều trị y học tái tạo trong các lĩnh vực bệnh cấp tính, mãn tính, di truyền và bệnh rối loạn. Trong thực tế, trong hai năm tiếp theo, chúng tôi dự đoán rằng Hoa Kỳ và EU chấp thuận y học tái sinh trong lĩnh vực tế bào và liệu pháp gen, bao gồm liệu pháp giải quyết một số loại ung thư, suy nhược rối loạn võng mạc, bệnh di truyền hiếm gặp.

Hiện nay, hơn 800 thử nghiệm lâm sàng đang được tiến hành để đánh giá phương pháp điều trị tái sinh tiên tiến trong nhiều lĩnh vực điều trị. Bạn muốn hết bệnh, muốn sống khỏe và ngăn không cho bệnh tái phát chỉ có 1 cách duy nhất là áp dụng y hôc tái sinh tại benhvienthongminh.com. Chúc các bạn sớm có sức khỏe như mong muốn bằng phương pháp mới này.

Thứ Sáu, 2 tháng 6, 2017

Đậu đen xanh lòng có tác dụng chữa bệnh gì?

Uống đậu đen xanh lòng có tác dụng chữa bệnh gì?

Đậu đen xanh lòng (hay đậu đen lòng xanh) là một loại ngũ cốc hết sức quen thuộc trong ẩm thực của người Việt. Không chỉ là một thực phẩm giàu dưỡng chất, đậu xanh lòng đen còn có thể chế biến thành món nước uống rất tốt cho sức khỏe. Vậy uống đậu đen xanh lòng có tác dụng chữa bệnh gì? Trong bài viết dưới đây, chúng ta sẽ cùng tìm hiểu những vấn đề trên. 

Thông tin về đậu đen xanh lòng
Đậu đen lòng xanh là một loại thực vật được trồng rất nhiều tại một số nước Á Châu và Châu Á. Đây hiện là một loại ngũ cốc được ưa dùng ở khắp mọi nơi trên thế giới. Người Trung Quốc, Nhật Bản từ lâu đã biết sử dùng đậu đen xanh lòng chế biến thành các loại thực phẩm phổ biến như: nước tương đen, tương khô và bột đậu, luyện cao đậu đen và đặc biệt là làm thuốc. So với đậu đen ruột trắng thì đậu đen xanh lòng quý giá hơn và có dược tính cao hơn.
Trong cuốn Bản Thảo Bị Yếu của Y học cổ điển Trung Quốc có ghi rằng: Đậu đen lòng xanh có đặc tính làm cho người già mắt yếu được sáng trở lại, bổ thận và điều hòa hệ thống tim mạch. Thống kê cho thấy, tại Trung Quốc có nhiều cụ già trên 80 tuổi, nhờ dùng đậu đen thường xuyên mà không cần đeo kiếng lão, lên xuống thang lầu không biết mệt và khi viết chữ, tay không run. Thêm vào đó, tình trạng táo bón ở những cụ này cũng suy giảm đáng kể.
Theo nghiên cứu của y học hiện đại thì đậu đen xanh lòng có khả năng điều trị nhiều chứng bệnh hiệu quả. Ngoài tác dụng cung cấp đủ năng lượng cho cơ thể thì đậu đen xanh lòng còn có thể chữa bệnh đậu mùa, mặt rổ hoa mè, tốt cho mắt.
Uống đậu đen xanh lòng có tác dụng chữa bệnh gì?
+ Uống đậu đen xanh lòng có tác dụng chữa hoa mắt chóng mặt
Đậu đen xanh lòng là thực phẩm vàng dành cho mắt. Nó có khả năng tăng cường thị lực ở trẻ em và phục hồi thị lực ở người già. Phương pháp sử dụng là dùng mè đen, đậu đen xanh lòng mỗi thứ 100gr, toàn bộ đem đi sao khô, tán thành bột mịn, trộn đều với nhau.
Để chữa chứng hoa mắt chóng mặt ở người cao tuổi, mỗi ngày, hãy uống 2 lần hỗn hợp trên, mỗi lần khoảng 2 muỗng cà phê. Lưu ý nên hoà với nước ấm hoặc nấu chín để đảm bảo không bị rối loạn tiêu hóa.
+ Uống đậu đen xanh lòng có tác dụng chữa đái tháo đường:
Đối với những bệnh nhân mắc bệnh tiểu đường hoặc đường trong máu cao thì đậu đen xanh lòng là một lựa chọn hàng đầu. Phương pháp dùng là cho đậu đen xanh lòng tán nhỏ dồn vào một cái túi mật bò, sau khi phơi trong bóng râm 100 ngày thì vo thành viên như hạt ngô. Mỗi sáng uống 1 viên, uống đến chừng nào hết thì thôi.
Một phương pháp khác nữa là dùng đậu đen xanh lòng và thiên hoa phấn trộn đều rồi tán nhỏ quấy thành hồ. Làm thành viên bằng hạt ngô, uống 70 viên/ lần. Hoặc sắc nước đậu đen rồi uống 2 lần/ ngày rất công hiệu.
+ Uống đậu đen xanh lòng có tác dụng chữa đại tiểu tiện bí gắt:
Những người yếu thận và mắc các bệnh phụ khoa thường xảy ra hiện tượng tiểu tiện khó, bí gắt. Trường hợp này nên lấy đậu đen xanh lòng ngâm rồi ủ cho lên thành giá, phơi khô sao cùng giấm, đại hoàng với lượng bằng nhau, sau đó tán thành bột. Mỗi lần uống 2 đồng. Ngoài ra, có thể dùng rễ cỏ tranh, trần bì sắc làm thang để giúp lợi tiểu.
+ Uống đậu đen xanh lòng có tác dụng chữa chóng mặt do thiếu máu
Có rất nhiều nguyên nhân gây nên tình trạng chóng mặt, đau nửa đầu. Một trong số đó là do nguyên nhân thiếu máu gây ra. Bạn có thể chế biến món đậu đen lòng xanh hầm với 1 con gà ác để ăn. Phương pháp này vừa bồi bổ cơ thể, cung cấp đủ sắt để tăng khả năng sinh sản máu. 

Đậu đen là một trong những loại thực phẩm dinh dưỡng nhất nên xuất hiện trong chế độ ăn của tất cả mọi người.

Đậu đen chứa nhiều protein, chất xơ, giúp có thể duy trì nguồn năng lượng trong một thời gian dài. Không những vậy, đậu đen còn giúp phái đẹp có một vòng eo con kiến.
Đậu đen còn là nguồn cung cấp axit folic, axit béo omega-3, canxi, sắt, mangan và nhiều dưỡng chất khác. Vì thế, những hạt này được xem là thực phẩm cân bằng sức khỏe hoàn hảo nhất.
Ăn những hạt đậu này hàng ngày còn giúp hỗ trợ cho tiêu hóa và điều chỉnh lượng đường huyết. Tờ Boldsky đã liệt kê những tác dụng của đậu đen với sức khỏe của chúng ta.
Ngăn ngừa ung thư
Các flavonoid có trong đậu đen hoạt động như các chất chống oxy hóa và loại bỏ các tác động nguy hiểm của các gốc tự do lên tế bào khỏe mạnh. Vì vậy, nếu thường xuyên ăn đậu đen, bạn có thể ngăn ngừa sự phát triển của các loại bệnh ung thư.
Tốt cho tim mạch
Đậu đen chứa hàm lượng chất xơ phong phú có thể giúp giảm cholesterol trong cơ thể. Các chất chống oxy hóa trong đậu đen lại giúp ngăn ngừa chất béo bị oxy hóa, gây tắc nghẽn động mạch.
Lợi cho đường ruột
Các chất xơ không hòa tan trong loại thực phẩm này giúp kích thích nhu động ruột thường xuyên. Ngoài ra, nó còn giúp cho quá trình loại bỏ chất độc và các độc tố ra khỏi cơ thể. Để có một hệ tiêu hóa khỏe mạnh, đừng quên sử dụng đậu đen.
Tăng cường hệ miễn dịch
Folat có trong đậu đen rất hữu dụng cho hoạt động của hệ miễn dịch. Vì vậy, ăn đậu đen sẽ giúp giảm nguy cơ mắc các bệnh như ho và cảm lạnh.
Giảm cân
Bổ sung đậu đen vào thực đơn hàng ngày là cách tốt nhất để giảm cân lành mạnh, không gây ra tác dụng phụ, bởi nó làm giảm sự hấp thu cholesterol trong máu.
Có tác dụng khử độc sulfates
Do có chứa khoáng chất vi lượng molypden - một thành phần của enzyme sulfile oxidate nên có tác dụng rất tốt trong việc khử độc sulfates (sunfit) cho cơ thể.
Đây là hóa chất có nhiều trong thực phẩm chế biến sẵn không có lợi cho con người, làm tăng nhịp tim, gây đau đầu hoặc rối loạn chú ý.
Nếu ai cơ thể nhạy với sunfit thì phải bổ sung để nó khử độc. Một bát đậu đen có chứa tới 172% nhu cầu khoáng chất molypden cần thiết cho cơ thể mỗi ngày.
Thực phẩm giàu chất xơ
Trong số những loại thực phẩm giàu chất xơ thì đậu đen được xem là “ứng cử viên” đầu bảng, rất có ích cho quá trình chuyển hóa glucose ở bệnh nhân mắc bệnh đái tháo đường, bằng chứng sau khi ăn xong không hề xuất hiện tình trạng tăng đường huyết.
Qua nghiên cứu các nhà khoa học phát hiện thấy, chất xơ hòa tan có khả năng hấp thụ nước trong dạ dày và hình thành ra loại gel làm giảm quá trình chuyển hóa carbohydrate có trong đậu đen.
Sự có mặt của chất xơ còn làm giảm cholesterol, nó liên kết với acid mật - thành hần làm tăng cholesterol
Do không được cơ thể hấp thụ nên khi đào thải ra ngoài, chất xơ mang theo cả acid mật và kết quả hàm lượng cholesterol của cơ thể giảm theo.
Ngoài ra, do có chứa các chất xơ không hòa tan nên đậu đen có tác dụng giảm thiểu nguy cơ mắc bệnh táo bón, rối loạn tiêu hóa và các chứng bệnh khó chịu có liên quan.
Giàu chất chống oxy hóa
Một nghiên cứu công bố trên tạp chí Nông nghiệp và Hóa thực phẩm (JAFC) của Hoa Kỳ đầu tháng 3 vừa qua cho biết, đậu đen là thực phẩm rất giàu chất chống oxy hóa, hợp chất này có tên là anthocyanins giống như có trong nho, quả mâm xôi, dâu tây…
Đặc biệt đậu càng đen, càng thẫm màu thì lại càng giàu chất anthocyanins, chất chống oxy hóa ở đậu đen cao gấp 10 lần các loại thực phẩm khác như: cam, nho hoặc dâu.
Giảm nguy cơ mắc bệnh tim mạch
Một nghiên cứu được thực hiện ở 16.000 đàn ông trung tuổi thuộc 7 quốc gia trong vòng 25 năm, do các nhà khoa học quốc tế thực hiện cho thấy những người ăn nhiều cá, đậu đen, rau xanh, ngũ cốc và sử dụng rượu vang điều độ là nhóm người giảm được tới 82% nguy cơ mắc bệnh tim mạch, so với nhóm người ăn ít nhóm thực phẩm nói trên, đặc biệt là thực phẩm họ đậu, lý do là đậu đen có chứa nhiều chất xơ.
Lợi thế của đậu đen là cung cấp chất xơ, folate và magie giúp làm giảm hormocystein, một loại acid amino hay còn gọi là sản phẩm trung gian không có lợi cho quá trình chuyển hóa và một khi hormocystein tăng thì rủi ro mắc bệnh tim, đột quỵ là rất lớn.
Tăng cường năng lượng cho cơ thể và ổn định lượng đường huyết
Ngoài lợi ích cho hệ tiêu hóa, tim mạch, chất xơ hòa tan có trong đậu đen có tác dụng ổn định lượng đường trong máu.
Trường hợp cơ thể kháng insulin mắc bệnh đái tháo đường (ĐTĐ) thì nên tăng cường ăn đậu đen, nó sẽ giúp cơ thể tiêu thụ năng lượng một cách chậm hơn và cuối cùng ổn định lượng đường huyết.
Tại Hoa Kỳ, người ta đã thực hiện một nghiên cứu đối chứng những người mắc bệnh ĐTĐ týp 2 được chia làm 2 nhóm, nhóm ăn theo tiêu chuẩn quy định đối với người ĐTĐ, khẩu phần ăn có 24g chất xơ/ngày và một nhóm khác dùng tới 50g chất xơ/ngày.
Kết quả hai nhóm đều giảm lượng đường huyết và insulin nhưng ở nhóm sau lượng cholesterol toàn phần giảm được gần 7%, triglycerid giảm 10,2% và hàm lượng cholesterol xấu giảm 12,5%.
Tăng cường sắt và măng- gan cho cơ thể
Đậu đen có tác dụng rất tích cực trong việc làm tăng năng lượng và hồi phục hàm lượng sắt cho cơ thể và rất hữu ích cho nhóm người bị mất máu bởi chấn thương, hoặc cho phụ nữ giai đoạn hành kinh cũng như cho nhóm người tuổi vị thành niên đang trong giai đoạn phát triển.
Măng-gan, vi lượng có trong đậu đen được xem là yếu tố vô cùng quan trọng giúp cơ thể tạo năng lượng và chống lại quá trình oxy hóa do các gốc tự do gây nên. Một bát nhỏ đậu đen có thể cung cấp tới 38% nhu cầu măng-gan cho cơ thể mỗi ngày.
Nguồn bổ sung protein cho cơ thể
Không chỉ ngon miệng, dễ chế biến, đậu đen còn là nguồn thực phẩm thay cho thịt, cá vì nó giàu hàm lượng protein hứu ích, không có chứa hàm lượng calo quá cao hoặc các loại mỡ xấu như các loại thực phẩm gốc động vật và như trên đã đề cập, nó rất có lợi cho nhóm người ăn kiêng.
Một bát nhỏ đậu đen cung cấp khoảng 15,2g protein (tương đương 30,5% nhu cầu protein và 74,8% nhu cầu chất xơ cho cơ thể mỗi ngày), với tổng lượng calo chỉ có 227g đặc biệt hoàn toàn không có chứa mỡ.
Những Lưu ý:

Chị Lê Thị Hòa (ở Mỹ Đức, Hà Nội) là người đã phải bỏ dở giữa chừng "liệu pháp" nuốt hạt đậu đen sống vì không thấy có tác dụng.
Theo chị Hòa, cách đây 2 năm, nghe một số người mách dùng hạt đậu đen sống có thể chữa nhiều bệnh, trong đó có chứng nóng trong hay bị “bốc hỏa” của mình, chị Hòa đã đi mua 5kg đậu đen xanh lòng về áp dụng.
“Họ nói đậu đen sống rất tốt cho sức khỏe, có thể làm sáng mắt, đẹp da, đen tóc, giải nhiệt cơ thể nên tôi đã dùng thử.
Cách làm cũng đơn giản, mỗi buổi sáng chỉ cần đếm đủ 49 hạt đậu đen, sau đó rửa sạch và nuốt trực tiếp. Cứ áp dụng đều đặn như vậy trong vòng 1 tháng sẽ bắt đầu có tác dụng.
Tuy nhiên, tôi đã làm liên tục trong vòng 3 tháng nhưng không thấy có tiến triển gì, đôi khi còn bị tiêu chảy. Sốt ruột, không kiên trì thêm được nữa, tôi đã bỏ cuộc”, chị Hòa chia sẻ.
Khác với trường hợp của chị Lê Thị Hòa, chị Nguyễn Thị Hân (ở Long Biên, Hà Nội) là người đã và đang áp dụng phương pháp nuốt hạt đậu đen để chữa bệnh trong suốt hơn một năm qua.
Chị Hân cho biết, phương pháp này thực sự giúp chị cải thiện đáng kể bệnh đục thủy tinh thể của mình.
Chị tâm sự: “Tôi bị bệnh đục thủy tinh thể gần 20 năm, mắt thường bị mờ, thị lực rất yếu. Từ ngày nghe mấy người bạn gợi ý nuốt 49 hạt đậu đen có thể giúp mắt sáng hơn, tôi đã làm thử.
Nói thật, thời gian đầu, tôi cũng không tin cho lắm nhưng nghĩ cách làm đơn giản, với lại qua tìm hiểu thấy đậu đen cũng lành tính nên tôi kiên trì làm theo.
Ấy thế mà đem lại hiệu quả thật. Sau hơn một năm áp dụng, tôi thấy mắt sáng hơn nhiều và không hay bị ốm vặt như trước nữa. Tôi sẽ tiếp tục áp dụng và khuyên chồng tôi làm theo để nâng cao sức khỏe”.
Khi chúng tôi thắc mắc về việc tại sao phải dùng 49 hạt đậu đen mà không phải một con số khác, chị Hân cũng không lý giải được cơ sở của con số này.
“Người ta nói “nguyên tắc” để có thể đem lại hiệu quả là phải nuốt 49 hạt, không hơn không kém thì mới có tác dụng.
Hơn nữa, phải nuốt trước khi ăn sáng, tức là lúc bụng đói. Nếu làm ngược lại thì coi như phí công. Có thể ngâm hạt trong nước lọc khoảng vài tiếng hoặc qua đêm cũng được.
Lúc đó, hạt nở ra, mềm hơn và dễ nuốt hơn”, chị Hân chia sẻ thêm.
Ăn đậu đen sống có thể gây tiêu chảy, loét dạ dày
Chia sẻ về thực hư công dụng của việc nuốt hạt đậu đen mỗi sáng có tác dụng đẹp da, sáng mắt, chữa nhiều loại bệnh… PGS.TS Trần Quốc Bình – Giám đốc Bệnh viện Y học cổ truyền Trung ương khẳng định: “Đó chỉ là bài thuốc lưu truyền trong dân gian.
Hiện nay, chưa có một công trình nghiên cứu khoa học nào chứng minh việc nuốt 49 hạt đậu đen có thể chữa bách bệnh. Y học cổ truyền cũng không khuyến khích người dân tùy tiện áp dụng phương pháp này”.
PGS.TS Trần Quốc Bình phân tích: Trong Đông y, đậu đen mang tính hàn, vị hơi ngọt, có tác dụng dưỡng âm, bổ thận.
Đây được coi là vị thuốc bổ trợ giống như thực phẩm chức năng, chứ hoàn toàn không có tác dụng chữa bệnh.
Vì vậy, nhiều người thường dùng loại hạt này để chế biến thành các món ăn để giải nhiệt như chè đậu đen, cháo đậu đen và là thành phần của một số bài thuốc trong Đông y.
Còn việc nuốt hạt đậu đen sống trực tiếp để chữa bệnh là hoàn toàn phi lý.
Hơn nữa, con số 49 hạt cũng chỉ là tượng trưng, truyền miệng trong dân gian chứ không có cơ sở khoa học nào chứng minh con số này có ý nghĩa đối với khoa học.
Không những thế, việc nuốt hạt đỗ đen sống đôi khi còn gây hại cho một số người dùng.
“Không phải người nào cũng “hợp” với đậu đen, do vậy, không nên dùng đậu đen một cách tùy tiện, kể cả việc ăn chè hoặc cháo đậu đen.
Đối với những người có cơ địa tốt thì việc nuốt hạt đậu đen về cơ bản là không gây tác dụng phụ.
Tuy nhiên, nó có thể gây tiêu chảy, loét dạ dày, thậm chí là xuất huyết dạ dày… với những người cơ địa kém, trẻ nhỏ và người cao tuổi”, PGS.TS Trần Quốc Bình khuyến cáo.
Lý giải về những trường hợp “trẻ ra” nhờ áp dụng phương pháp này, PGS.TS Trần Quốc Bình cho rằng, đó có thể là sự trùng hợp ngẫu nhiên do cơ địa thích ứng của mỗi người hoặc trong quá trình nuốt hạt đậu đen, người dùng kết hợp sử dụng thêm nhiều vị thuốc bổ khác.
Tuy nhiên, để có được hiệu quả như vậy, cần kiên trì áp dụng trong một thời gian dài và tuân thủ việc ăn uống, sinh hoạt điều độ.
Hiện nay, cả y học cổ truyền và y học hiện đại đều chưa nghiên cứu được bài thuốc có thể chữa bách bệnh.
Vì vậy, mọi lời đồn thổi về công dụng “thần kỳ” của việc nuốt hạt đậu đen sống cũng chỉ là truyền miệng. Người dân không nên quá tin tưởng và phải cân nhắc thật kỹ trước khi áp dụng.
Ngâm đậu đen với giấm trong vòng 2 tháng, sau đó ăn mỗi ngày 2 thìa. Ông Thường vốn mắc bệnh huyết áp khi 75 tuổi nhưng vẫn khỏe đến 91 tuổi nhờ bài thuốc đơn giản mà kỳ diệu này.
Đông y có câu nói nổi tiếng rằng, bác sĩ tốt nhất là chính mình, bệnh viện tốt nhất là nhà bếp. Điều này nghe có vẻ lý thuyết, nhưng chiêm nghiệm thực tế thì đúng là như vậy nếu bạn quan tâm tới những giải pháp ăn uống hỗ trợ sức khỏe.
75 tuổi mắc bệnh nặng, hồi phục thần kỳ
Ông Thường Thiệu Phân, 91 tuổi, người Trung Quốc mới đây được Kênh truyền hình CCTV4 đưa tin chia sẻ về bài thuốc chữa bệnh vô cùng đơn giản nhưng lại có thể giúp ông chữa được bệnh huyết áp, mỡ máu, chắc xương khớp.
Ông Thường kể, khi 75 tuổi, ông mắc bệnh xơ cứng động mạch não, mặc dù sau đó chữa trị trong một thời gian dài có đỡ hơn, nhưng di chứng để lại rất nhiều vấn đề rắc rối. Cả cơ thể sờ vào đâu cũng có bệnh, đau mỏi khắp nơi.
Nghe thông tin từ con trai ông hướng dẫn, ông làm món đậu đen ngâm giấm để tự chữa bệnh. Không ngờ sau vài tháng sử dụng, sức khỏe của ông có sự thay đổi rất lớn.
Ông cảm thấy chân tay bắt đầu có chút sức lực, răng miệng đặc biệt tốt, không còn cảm thấy có bệnh về tim não, các bệnh của người già trước đây cũng nhờ đó mà giảm đi rất nhiều, vô cùng kỳ diệu, bản thân ông cũng rất ngạc nhiên.
Không chỉ cá nhân ông áp dụng thành công, mà bạn bè trong làng cũng học theo phương pháp này, sức khỏe của họ cũng được cải thiện hơn trước.
Bí quyết về bài thuốc này cuối cùng cũng được công khai lên các phương tiện truyền thông Trung Quốc bởi nguyên liệu dễ kiếm, có thể thực hiện dễ dàng. Nếu kiên trì ăn, kết quả sẽ có thể tự cảm nhận được.

Hình ảnh ông Thường chia sẻ kinh nghiệm trên Truyền hình Trung Quốc
Món đậu đen ngâm giấm có gì đặc biệt?
Nguyên liệu: 500g đậu đen, tốt nhất là dùng loại đậu đen xanh lòng. 1 chai giấm (ông Thường dùng giấm nhãn hiệu Sơn Tây Lão Trần – một loại giấm nâu truyền thống Trung Quốc).
Cách làm:
- Rửa sạch đậu bằng nước lạnh, nhặt hết tạp chất.
- Để đậu ở nơi khô ráo, phơi khô, đảo đậu cho ráo nước hoàn toàn.
- Khi đậu khô vỏ thì cho vào bình thủy tinh miệng rộng có nắp đậy, tiếp tục cho giấm vào ngập đậu. Số lượng đậu chỉ nên chiếm khoảng 2/3 bình, để dành không gian khi đậu nở ra.
- Khi giấm ngấm hết vào đậu khoảng một nửa thì có thể rót thêm giấm.
- Trên nắp bình cần ghi chú ngày tháng ngâm, để canh chừng thời gian ngâm đủ. Đậy kín nắp bình, để nơi thoáng mát đủ 2 tháng là có thể sử dụng.

Đậu đen ngâm giấm để trong bình kín đủ 2 tháng thì mới sử dụng
Cách ăn:
Mỗi ngày ăn 2 thìa, nếu người có đường ruột không tốt, thì có thể làm ấm lên để ăn hoặc có thể trộn thêm một chút mật ong ăn cùng.

Có thể ăn trực tiếp 2 thìa, cũng có thể pha thêm với mật ong
Lưu ý:
Bệnh nhân bị bệnh thận mãn tính có triệu chứng suy thận không nên ăn đậu đen, bởi vì nó có chứa chất purine, có thể gây suy thận ở những bệnh nhân có acid uric cao.
Ông Thường cho biết: Đừng đánh giá thấp muỗng đậu đen này. Trong nhiều năm qua, chúng có vai trò đặc biệt lớn đối với sức khỏe của tôi. Có rất nhiều hàng xóm của tôi cũng đã học theo cách này, đặc biệt là người mắc bệnh cao huyết áp, cao mỡ máu đều có thể chữa khỏi.
Hai muỗng một ngày, không còn lo mắc bệnh mãn tính
Tại sao vài thìa đậu đen ngâm giấm lại có tác dụng kỳ diệu như vậy? Theo Đông y, đậu đen vốn là thực phẩm dưỡng sinh truyền thống. Trong dân gian hiện nay vẫn lưu truyền câu nói "muốn sống thường thọ, hãy ăn đậu đen".
Trong cuốn sách về Trung y dược của Trung Quốc "Bản thảo cương mục" có nêu ví dụ nuốt hạt đậu đen vào buổi sáng giúp con người sống khỏe, sống thọ.
Bên cạnh đó, khi kết hợp đậu đen và giấm, các thành phần trong giấm và đậu đen có thể phát huy tối đa tác dụng, tạo nên lợi ích kép do kết hợp thực phẩm, hoàn toàn coi đây là giải thích có căn cứ khoa học.
1. Tác dụng giảm mỡ máu
Đậu đen có chứa một lượng lớn glycinin có thể làm giảm cholesterol, acid linoleic, acid linolenic, lecithin và các axit béo khác. Các thành phần hữu ích này có thể làm mềm mạch máu, giãn nở các mạch và thúc đẩy tuần hoàn máu.
Viện Sinh học Nhật Bản đã nghiên cứu cho thấy tác dụng của đậu đen ngâm giấm có hiệu quả trong việc hạ lipid máu, nghiên cứu này cũng cho thấy việc ăn đậu đen ngâm giấm trong 8 tuần thì có tới hơn 80% số người có chỉ số lipid giảm.

(Ảnh minh họa)
2. Tác dụng làm hạ huyết áp
Trung tâm y tế Y học Thành phố Thiệu Hưng, Chiết Giang (TQ) tiến hành một nghiên cứu trên 60 người mắc bệnh cao huyết áp và cho ăn đậu đen ngâm giấm.
Kết quả nghiên cứu cho thấy hiệu quả hạ huyết áp của nhóm bệnh nhân thử nghiệm có tác dụng rõ ràng.
3. Điều trị các bệnh mãn tính
Giấm ngâm đậu đen còn có tác dụng làm đẹp, giảm cân, bổ thận, sáng mắt, giúp tóc đen hơn, hạn chế tóc bạc. Cải thiện các triệu chứng táo bón mãn tính, huyết áp cao, cholesterol cao, đau lưng, đau chân, tiểu đường, bệnh tuyến tiền liệt, tóc bạc sớm, bệnh tim mạch vành.
Một số người ăn trong 2 tháng nhận thấy tác dụng cụ thể như hạn chế được chứng rụng tóc, tái mọc tóc mới.
4. Cải thiện thị lực
Tại sao đậu đen có thể ức chế việc giảm thị lực? Bởi vì chất chống oxy hóa anthocyanin có lợi cho mắt có rất nhiều trong đậu đen. Bên cạnh đó, do rất giàu vitamin A, khi ngâm giấm sẽ làm cho đậu giải phóng các chất, góp phần giúp cơ thể hấp thu hiệu quả các chất dinh dưỡng.
Vì vậy, ăn đậu đen ngâm giấm có thể cải thiện thị lực, giúp bạn phòng tránh một phần tác hại khi xem máy tính, TV, điện thoại quá lâu, các hiện tượng đau mỏi mắt, khô mắt cũng sẽ được cải thiện. Những người có bệnh về mắt khác cũng nhận được những tác dụng tốt.

Đậu đen lên mầm có ăn được không?

Một số loại ngũ cốc, rau lên mầm có chứa nhiều loại vitamin thiết yếu (vitamin B, C, E…), amino axit và chất xơ cần thiết cho cơ thể với hàm lượng cao. Nhờ giàu vitamin, rau mầm giúp cơ thể tăng sức đề kháng, giữ gìn làn da mịn màng tươi tắn, nguồn vitamin E dồi dào trong đậu đen còn giúp làm chậm quá trình lão hoá và tăng cường sinh lực, gây hưng phấn.
Hàm lượng chất xơ cao sẽ giúp người ăn dễ tiêu hoá, dễ hấp thụ, chuyển hoá các chất phức tạp. Theo nghiên cứu của một số nhà dinh dưỡng học Mỹ, đậu đen thích hợp cho các chế độ ăn kiêng và còn giúp ngăn ngừa các nguy cơ ung thư.
Các loại rau mầm nên ăn :
– Các loại rau mầm họ cải như củ cải trắng cải đỏ, mầm cải thìa, mầm rau cải ngọt,mầm súp lơ…
– Rau mầm lạc mầm vừng
– Rau mầm đậu nành, đậu xanh, đậu đen, đậu trắng, đậu đỏ, đậu Hà Lan
– Rau mầm rau muống mầm rau dền
– Mầm mướp đắng .
Những loại rau, cũ, hạt lên mầm có thể nguy hiểm đến tính mạng
Theo đánh giá của các chuyên gia dinh dưỡng trong và ngoài nước, rau mầm có giá trị dinh dưỡng cao gấp 3 – 5 lần rau thường. Tuy nhiên, có một số loại khi lên mầm lại là chất cực độc gây nguy hiểm đến sức khỏe và tính mạng.
Rau mầm còn có thể bị nhiễm khuẩn, nhiễm bẩn do quá trình thu hoạch không bảo quản đúng cách. Bên cạnh đó, còn có nguy cơ từ lượng phân bón thấm vào rau mầm khi người ta cố tình dùng nó để kéo dài ngày thu hoạch. nguy cơ ngộ độc rau mầm còn có thể đến từ chính đặc tính sinh học của hạt giống.
Theo nhiều nghiên cứu cho thấy, trong mầm khoai tây và mầm của các loại dưa dây có chứa độc chất là alkaloid solanine. Khi bị ngộ độc với triệu chứng buồn nôn, tiêu chảy, đau đầu, tức ngực, nặng có thể nguy hiểm đến tính mạng.
Danh sách các loại mầm ko nên ăn:
– Rau mầm cây sắn
– Rau mầm từ khoai tây hay khoai lang
– Rau mầm của các loại dưa dây
– Mầm cây đậu ván già
– Mầm đậu như đậu ván, đậu kiếm hay đậu trứng chim (có hàm lượng lớn glucozid sinh axit cyanhydric giống như trong măng và sắn nên không nên ăn rau mầm của những loại này )
Bên cạnh đó cũng không nên ăn những cây măng mọc ở môi trường không có ánh sáng vì môi trường này độc tố của măng sẽ cao hơn nhiều.
Hướng dẫn các bước gieo trồng và thu hoạch
Bước 1:Xử lý hạt giống
+ Đầu tiên, ta ngâm hạt giống đỗ đen trong nước ấm 2 sôi 3 lạnh trong thời gian 2-3 tiếng.
+ Sau khi ngâm đem lọc hết các hạt hư, hạt thối rồi đem rửa qua bằng nước để ráo nước
Bước 2: Hướng dẫn cách gieo hạt
+ Đầu tiên, bạn trải khăn giấy vào đáy rổ, phải trải kín nhé các bạn không rau mầm sẽ bị đắng đó.
+ Sau đó bạn tưới nhẹ 1 lớp nước để tạo độ ẩm bề mặt khăn giấy
+ Khi bắt đầu gieo hạt giống đỗ đen lên bề mặt khăn giấy, không được chồng lên nhau.

10.huong-dan-trong-rau-mam-dau-den-tuoi-ngon-1-phunutoday.vn
 + Cuối cùng là bạn tưới thêm 1 lớp nước nhẹ lên bề mặt dùng bìa carton đậy kín lại hoặc có thể dùng khăn ẩm đậy lên.
Bước 3: Chăm sóc rau mầm
+ Để chăm sóc rau mầm hàng ngày tưới nước 3-4 lần cho rau mầm.
Bước 4: Thu hoạch
+ Sau 3-4 ngày bạn muốn thu hoạch giá đỗ đen thì có thể thu hoạch

10.huong-dan-trong-rau-mam-dau-den-tuoi-ngon-2-phunutoday.vn
 + Lưu ý là nếu bạn muốn lấy rau mầm sau 6 ngày bạn nhé.
Hy vọng những thông tin trên sẽ giúp ích được nhiều cho các bạn nhé! Chúc các bạn thành công!

*Theo Health/TT