Thứ Ba, 22 tháng 7, 2014

Điều trị bệnh vẩy nến,á sừng,gầu da đầu.

http://www..benhvienthongminh..com
-  Bệnh vẩy nến (Psoriasis) được biết đến từ thời thượng cổ và là một trong những bệnh da rất hay gặp ở Việt Nam cũng như nhiều nước trên thế giới. Theo thống kê, tỷ lệ bệnh vẩy nến khác nhau tùy từng vùng, từng châu lục, song nó dao động trong khoảng 1-3% dân số.
PGS. TS. Trần Hậu Khang 
-  Mặc dù đã được nghiên cứu từ lâu, song cho đến nay nguyên nhân và sinh bệnh học của bệnh vảy nến vẫn còn nhiều điều chưa sáng tỏ. Trong những năm gần đây, nhiều nhà nghiên cứu cho rằng bệnh liên quan đến rối loạn miễn dịch và yếu tố di truyền. Ngoài ra một số yếu tố có ảnh hưởng, kích thích và làm bệnh tiến triển nặng thêm cũng được đề cập. Đó là các yếu tố: Stress, nghiện bia, rượu, thuốc lá, nhiễm trùng, rối loạn nội tiết, rối loạn chuyển hóa, khí hậu, môi trường…
Một điều khẳng định chắc chắn là bệnh vẩy nến không phải là bệnh lây lan như bao người nhầm tưởng.

-  Bệnh vẩy nến (vảy nến) chiếm 5% dân số châu Âu, 2% dân số châu Á và châu Phi, xấp xỉ 10% tổng số các bệnh nhân đến khám ở các phòng khám Da liễu. Bệnh lành tính, thường không ảnh hưởng đến sức khỏe nhưng ảnh hưởng đến thẩm mỹ, tâm lý và những hệ lụy của nó. Nam gặp nhiều hơn nữ, người lớn nhiều hơn trẻ em. Bệnh phát thành từng đợt, có khi tăng giảm theo mùa.
-  Theo y học cổ truyền, bệnh vảy nến gọi là tùng bì tiễn, là bệnh ngoài da mạn tính hay tái phát. Thương tổn cơ bản của bệnh vảy nến là đỏ da, có vảy nổi cộm ít hoặc da đỏ này thường có vảy trắng, xám phủ lên trên, phải cạo hết lớp vảy này mới thấy rõ. Bệnh hay phát vào mùa đông, ở da đầu và mặt ngoài của tay, chân; nặng thì phát ra toàn thân kèm theo sưng đau các khớp tay chân. Y học cổ truyền cho nguyên nhân của bệnh vảy nến là do huyết nhiệt, lại cảm phải phong hàn mà thành bệnh, lâu ngày làm huyết áp cao.

I.  Nguyên nhân
-  Vẩy nến là do rối loạn biệt hóa lành tính của tế bào thượng bì. Cho đến nay vẫn chưa khẳng định rõ ràng nguyên nhân. Nhưng người ta biết chắc chắn 5 yếu tố sau đây làm nên cơ chế sinh bệnh:
-  Di truyền: Khoảng 30% bệnh nhân có yếu tố gia đình (cha, mẹ, anh chị em ruột hoặc họ hàng trực hệ); 70% các cặp song sinh cùng mắc. Các nghiên cứu chỉ ra các kháng nguyên HLAW6, B13, B17, DR7 liên quan đến vẩy nến da và khớp.
Nhiễm khuẩn: vẩy nến ở trẻ em, vẩy nến thể giọt người ta phân lập được liên cầu khuẩn ở tổn thương và điều trị kháng sinh thì bệnh thuyên giảm.
Stress: Làm bệnh tái phát hoặc đột ngột nặng lên.
Thuốc: Bệnh vẩy nến xuất hiện sau khi sử dụng một số thuốc: chẹn beta kéo dài, lithium, đặc biệt sau khi sử dụng corticoid.
Hiện thượng Kobner: thương tổn mọc lên sau các kích thích cơ học (gãi, chà xát) hoặc các kích thích lý hóa (bệnh nặng nhẹ theo mùa).
II.  Vẩy nến có bao nhiêu thể ?

-  Tùy theo tính chất, đặc điểm lâm sàng, người ta chia vẩy nến làm 2 thể chính: Thể thông thường và thể đặc biệt.
-  Trong thể thông thường, dựa vào kích thước, vị trí của thương tổn da, người ta phân làm các thể như: Thể giọt, thể đồng tiền, thể mảng, vẩy nến ở đầu, vẩy nến đảo ngược, …
-  Thể đặc biệt ít gặp hơn nhưng nặng và khó điều trị hơn. Đó là các thể: Vẩy nến thể mủ, vẩy nến thể móng khớp, vẩy nến thể đỏ da toàn thân.

III.  Nhận diện
Vị trí đặc hiệu: Vùng da bị tỳ, cọ nhiều như khuỷ tay, đầu gối, mông, xương cùng, vùng mấu chuyển lớn.
-  Lúc đầu từng lớp vẩy bong ra như nến rồi đến màng bong là một màng rất mỏng. Khi màng đó đã được nạo đi sẽ thấy rướm máu lấm tấm, có lẫn cả tiết dịch trong giống như những giọt sương li ti, vì vậy còn được gọi là hiện tượng sương máu (phénomène de la rosée sanglante), có giá trị rất lớn để chẩn đoán.
Có trường hợp vẩy nến khu trú ở da đầu, ăn xuống rìa tóc hoặc ở lòng bàn tay, bàn chân, có khi lan ra toàn thân. Móng tay chân có thề dày, sần sùi, móng có vạch ngang, dễ gãy dưới móng có chứa bột trắng.
-  Nhiều trường hợp vảy nến nổi ngay trên các vết sẹo, vết sượt da, vết mổ, vết tiêm. Bệnh gây ngứa ít nhiều tuỳ từng theo từng người, tiến triển từng đợt, lúc ổn định, lúc vượng, có lúc tự nhiên khỏi. Thường hay tái phát theo mùa, có người nặng về mùa hè, có người nặng về mùa đông. Bệnh lâu ngày tính chất mùa không còn rõ rệt. Một số ít phụ nữ lúc mang thai bệnh nhẹ hoặc hết, sau sanh, da lại bị tổn thương hoặc nặng hơn.

- Vẩy nến ở da: Trên da có các mảng đỏ ranh giới rõ, phía trên có vẩy dầy màu trắng. Khó xác định hơn nếu thương tổn chỉ có ở đầu do tóc che khuất cho nên cần chú ý: nếu thấy ở đầu tự nhiên thấy gầu nhiều và dầy lên so với trước đây.
- Vẩy nến ở móng: Móng dầy hoặc có nhiều lỗ nhỏ trên bề mặt móng.
- Vẩy nến ở khớp: Các khớp bị biến dạng, bệnh nhân khó vận động.
- Vẩy nến thể mủ: Trên da có các mụn mủ khô và nông.
- Vẩy nến thể đỏ da toàn thân.

IV.  Những điều cần tránh
Nhìn vào 5 yếu tố làm nên cơ chế sinh bệnh mà ta phải:
- Tránh căng thẳng (stress)
- Tránh kì cọ và bóc da (hiện tượng Kobner)
- Cẩn thẩn khi dùng thuốc nếu mắc thêm các bệnh về tim mạch.
- Tránh nhiễm khuẩn: Đặc biệt là nhiễm khuẩn tai mũi họng.
- Tránh rượu: Vì rượu làm bệnh nặng lên và tương kị với các thuốc điều trị.
- Nên lạc quan với bệnh tật: do bệnh lành tính và phổ biến, khoa học tiến bộ không ngừng trong việc tìm ra nguyên nhân đích thực của bệnh và hàng năm đều ra đời các thuốc và phương pháp chữa bệnh mới có hiệu quả hơn. Hãy tin tưởng rằng trong tương lai không xa bệnh vẩy nến sẽ có các đột phá mới.

V.  Điều trị bằng y học hiện đại:
1.  Điều trị tại chỗ
Dùng các loại mỡ, kem, dung dịch với mục đích bong vẩy, tiêu sừng, hạn chế hình thành nhanh chóng vẩy da như:
- Mỡ Salicyle 5%, 10%
- Vitamin D3 và dẫn chất
- Goudron
2.  Điều trị toàn thân
- Acitretine: (Soriatane)
- Cyclosporin: (Neoral)
- Methotrexate
- Quang trị liệu: UVB phổ hẹp (UVBTL01)
- Quang hóa trị liệu: PUVA

5.  Chế độ sinh hoạt

-  Tắm mỗi ngày để loại bỏ vẩy bám trên da. Tránh nước quá nóng, xà bông quá mạnh làm da thêm khô ngứa. Lau da nhẹ nhàng tránh gây tổn thương thêm.
-  Tránh gãi chỗ ngứa. Giữ da ấm. 
- Tránh làm tổn thương da, tránh kì cọ, côn trùng cắn, nhiễm vi khuẩn và vi rút, cháy nắng, stress, rượu và tăng cân.
- Tránh nhiễm khuẩn: Đặc biệt là nhiễm khuẩn tai mũi họng.
- Người bệnh nên giữ vệ sinh thân thể sạch sẽ, giữ tâm trạng thoải mái, không mặc cảm. Tránh tâm trạng bất an, bi quan quá lo buồn để tránh tái phát.

VI.  Một số phương pháp chữa vẩy nến bằng đông y:
Các nhà khoa học trường đại học Georgia đã phát hiện ra rằng trà xanh có thể chữa những bệnh về da như gàu, vẩy nến hay bệnh lupus.


1. Trà xanh chứa ít caffeine
- Trà xanh có thể chữa những bệnh về da như gàu,vảy nến
- Tinh chất trà xanh hòa với nước sẽ giúp làm chậm sự phát triển các triệu chứng của bệnh vẩy nến.
- Trà xanh là loại thuốc tốt.
- Trà xanh cũng làm chậm sự sản xuất các tế bào da bằng cách điều chỉnh lại hoạt động của enzyme caspase 14, caspase 14 có liên quan đến quá trình tái tạo da.
Đối với vẩy nến và một số bệnh về da khác, tế bào da thường sinh sôi nảy nở một cách không kiểm soát được, làm cho da dày hơn, xù xì và giống như vảy cá.
Vì vậy, các nhà khoa học khuyên rằng việc tắm bằng nước trà xanh có thể giúp chữa được những bệnh về da, rất an toàn và không tốn kém.

- Mặc dù trà xanh có chứa caffeine, nó vẫn chứa ít hơn nhiều hơn so với cà phê và trà đen. Điều này có nghĩa là nó sẽ không gây ra tác dụng tương tự như cà phê và trà đen như: buồn nôn, mất ngủ hoặc đi tiểu thường xuyên.
- Nghiên cứu về trà xanh cũng đã chỉ ra rằng nó ức chế sự phát triển của các tế bào ung thư, đó là lý do tại sao trà xanh được coi như là một biện pháp phòng ngừa chống lại các loại ung thư khác nhau, đặc biệt là ung thư thực quản.Còn nhiều bệnh khác mà bạn chưa biết cách điều trị tận gốc hay phòng ngừa, mời bạn vào web benhvienthongminh..com để tham khảo phương pháp bảo vệ sức khỏe cho mình và người thân.

- Khi hệ thống miễn dịch không hoạt động bình thường, bạn sẽ cần đến sự hỗ trợ của trà xanh. Trong việc giảm cân, các nghiên cứu đã chỉ ra rằng uống trà xanh sẽ giúp kiềm chế sự thèm ăn tốt hơn nhiều so với các loại thuốc. Nó cũng giúp nâng cao tỷ lệ trao đổi chất của cơ thể và điều này sẽ giúp cơ thể đốt cháy chất béo với một tốc độ nhanh hơn rất nhiều.



2. Cây lược vàng

- Tháng 2-2010, Chị Trần Thị T, 48 tuổi ở số nhà 206, tầng 2, nhà A4 Tập thể Dệt Kim, phường Đồng Nhân, quận Hai Bà Trưng, Hà Nội bị mẩn ngứa, xuất hiện các lớp vẩy ở hai khuỷu tay, lan dần ra hai thái dương, tóc rụng nhiều khi chải đầu. Nghĩ là bệnh ngoài da bình thường, chị rửa cồn, bôi thuốc mỡ không đỡ, đến Bệnh viện Da Liễu Hà Nội khám, xét nghiệm, được kết luận là viêm da cơ địa + rụng tóc, được điều trị bằng kem bôi và thuốc uống. Đột nhiên, đầu tháng 4 năm 2010 bệnh phát triển rất nhanh: Lớp vẩy lan ra hai tay, khắp người, cổ, mặt, toàn thân trông rất sợ, đầy vẩy, dưới lớp vẩy ứa máu, ngứa ngáy toàn thân, tóc rụng từng mảng, chị luôn phải mặc áo dài, đội mũ. Cả nhà vô cùng lo lắng, đưa đi khám lại và được kết luận là vẩy nến thể mảng, lại được điều trị bằng kem bôi và thuốc uống.
- Chị phải nghỉ bán hàng, người hốc hác, khó chịu, phải nằm thường xuyên, kiên trì uống thuốc, chấm bôi thuốc mỡ khắp người, vẩy rụng ra hàng vốc lại mọc mà không đỡ.Sốt ruột, nghe mách bảo, tháng 6-2011 chị đi khám Đông y Nguyễn Bỉnh Khiêm, uống hơn 30 thang thuốc, không thay đổi gì, lại quay lại khám Bệnh viện Da liễu được cấp thuốc mỡ, kem bôi và thuốc uống, kiên trì từ tháng 7 đến hết tháng 10-2010. Tháng 11-2010 chị chuyển sang khám tại Viện Da liễu Quốc gia (tại Bệnh viện Bạch Mai), sau khi sinh thiết, vẫn được kết luận là vẩy nến thể mảng, được cấp kem bôi và thuốc uống, tiếp tục kiên trì điều trị. Trong quá trình điều trị, chị còn được chạy xạ hai đợt tại Bệnh viện Da liễu Hà Nội, mỗi đợt 5 ngày, mỗi ngày khoảng 5 phút, người đỏ như tôm luộc.
- Tuy biết vẩy nến không nguy hiểm ngay đến tính mạng, hiện chưa có thuốc đặc hiệu điều trị, có khi phải “chung sống”, nhưng cả gia đình chị hết sức lo lắng, vì chị là trụ cột chính của gia đình, lại phải nằm bẹp một chỗ.
Tháng 10-2010 tôi đến thăm chị. Lần đầu tiên nhìn thấy bệnh vẩy nến tôi cũng ghê sợ. Cầm trên tay cuốn sổ y bạ kẹp hơn hai chục tờ giấy xét nghiệm, đơn thuốc, hóa đơn; nhìn chị ngồi thu lu, rúm ró trên giường tôi ái ngại khuyên chị thử dùng cây Lược vàng và đưa cho chị cuốn “Cây Lược vàng quý hơn vàng” bản phô-tô, dặn đọc kĩ những trang đánh dấu về chữa bệnh vẩy nến.
- Gần Tết Tân Mão (2011), người nhà chị ở Nam Định gửi đến một bao tải dứa cây Lược vàng, chủ yếu là thân, vòi nhờ tôi ngâm rượu. Còn lá chị cho vào nhiều túi ni-lông, để vào tủ lạnh, dùng dần. Đúng 28 Tết, chị bắt đầu sử dụng: Ngày ăn 6 lá (lá dài trên 20cm), chia 3 lần trước bữa ăn 20 phút. Đập giập lá, lấy bã và nước xoa xát khắp người. Tạm dừng sử dụng các loại thuốc Tây. Sau 5 ngày, chị thấy người thay đổi: Toàn thân như căng ra, nhất là chân, tay, da căng mọng, chân các vẩy rớm máu, rất khó chịu. Đó là phản ứng có tác dụng như sách đã nói, thông báo cho tôi biết và tiếp tục kiên trì sử dụng.
- Thời gian tiếp theo là những tin đáng khích lệ: Toàn thân dịu dần, vẩy không ứa máu, tắm nước nóng ấm hằng ngày vẩy rụng rất nhiều, người thấy dễ chịu. Sau hai tháng, vẩy rụng hết, các vết bắt đầu lên da non, tóc không còn rụng. Chị sử dụng thêm rượu Lược vàng xoa khắp chỗ bị vẩy nến. Tháng 4-2011, da chân tay trở lại bình thường, sức khỏe hồi phục, chị lại đi bán hàng. Tháng 6-2011, chị cùng chồng, con đến thăm tôi, vui tươi, khỏe mạnh hơn trước, có thể do trút được gánh nặng lo âu về căn bệnh khó chịu chăng? - - Tôi khuyên chị duy trì sử dụng cho đến khi khỏi hẳn và tiếp tục dùng phòng bệnh tái phát. Gia đình và họ hàng chị cũng vô cùng phấn khởi, có người nói: “Đó là thuốc tiên dành cho người nghèo và mọi nhà đều phô-tô cuốn “Cây Lược vàng quý như vàng”, để sử dụng. Ngoài ra, một người trong họ từ tháng 5-2011 sử dụng Lược vàng để chữa trị biến chứng tiểu đường, đến nay đã có nhiều chuyển biến khả quan: Đường huyết hạ, mắt đỡ biến chứng, đang dần hồi phục.
- Còn chị T bệnh nhân vẩy nến, yên tâm vui vẻ ăn Tết Nhâm Thìn. Tôi thực sự vui lây và muốn chuyển lời cảm ơn của gia đình họ đến Báo Người cao tuổi, đến tác giả cuốn sách “Cây Lược vàng quý như vàng
- Dân gian dùng cây lược vàng chữa bệnh loét dạ dày tá tràng, lợi tiểu, ngăn ngừa và điều trị các khối u trong cơ thể.
- Theo kết quả nghiên cứu của các nhà khoa học Mỹ vàCanada, dịch ép từ cây lược vàng rất giàu các chất kích thích sinh học có tác dụng ngăn ngừa sự phát triển của nhiều loại tế bào ung thư. Những chất này còn có khả tratamlan năng chữa lành các bệnh mắt, viêm loét dạ dày tá tràng, hen suyễn, và nhiều bệnh khác nữa. Nó làm tăng quá trình biến dưỡng, làm tăng khả năng bảo vệ cơ thể và đồng thời thúc đẩy quá trình tái sinh (đổi mới) các tế bào trong cơ thể.
- Cây lược vàng có tên tiếng Anh là “basket plant” (cây giỏ - vì thường được trồng trong những giỏ nhỏ để trong nhà) tên Latinh là Callisia fragrans, thuộc họ thài lài Commelinaceae. Chính nhờ thành phần các chất sinh học hiện diện trong cây có tác dụng hiệu quả trên cơ thể người, mà cây lược vàng đang được nhiều nước quan tâm nghiên cứu.
- Toàn cây chứa các chất có hoạt tính sinh học gồm flavonoid, steroid và nhiều khoáng tố vi lượng có lợi cho sức khỏe. Chất flavonoid đóng vai trò như vitamin P có khả năng làm bền mạch máu và tăng tác dụng của vitamin C.
- Những hoạt chất này còn có tác dụng giảm đau, an thần, kháng viêm, hoạt huyết, được dùng để chữa lành vết thương, vết bỏng, vết bầm tím. Dân gian dùng làm phương thuốc chữa bệnh loét dạ dày tá tràng, lợi tiểu, ngăn ngừa và điều trị các khối u trong cơ thể.
Hai chất flavonoid được xác định là quercetin và kaempferol. Quercetin là một chất chống oxy hóa tế bào mạnh, có khả năng kháng ung thư và tăng sức bền thành mạch, còn hữu ích trong trường hợp dị ứng, chảy máu thành mạch, viêm thận, thấp khớp, bệnh tim mạch, bệnh mắt và các bệnh nhiễm trùng.
Kaempferol giúp củng cố mao mạch, nâng đỡ thể trạng, tăng sự đào thải nước tiểu và khả năng kháng viêm, được dùng chữa viêm nhiễm, dị ứng và bệnh đường tiết niệu. Hai chất này hợp đồng cộng lực, nhờ đó mà hiệu quả điều trị được gia tăng.
Chất steroid trong cây chính là phytosterol. Chất này có hoạt tính estrogen, tác dụng sát khuẩn, chống xơ cứng và kháng ung thư. Cây lược vàng còn có khả năng tẩy uế không khí ô nhiễm trong phòng, phóng thích những chất có ích cho việc điều trị các bệnh thuộc đường hô hấp.
Coi chừng tác dụng phụ
Gần như loại thảo dược nào cũng có khả năng gây tác dụng phụ và cây lược vàng không là ngoại lệ. Các tác dụng phụ thường gặp nhất của việc sử dụng thảo dược này là tổn thương các dây thanh quản, gây dị ứng phát ban và sưng phù, đặc biệt là ở những người có hệ miễn dịch suy yếu và dễ dị ứng. Do đó, chỉ được chấp nhận sau khi có ý kiến của bác sĩ.
Tóm lại, cho dù đã được nghiên cứu nhưng đôi khi các kết quả vẫn chưa đủ để tạo chứng cứ khoa học cho một loại thuốc mới, nên vẫn cần tham khảo ý kiến của bác sĩ để biết cách sử dụng, liều lượng, dạng thích hợp, không nên tự ý sử dụng và luôn nhớ một loại thuốc không thể chữa được nhiều bệnh cùng lúc.
MỘT SỐ CÁCH DÙNG CÂY LƯỢC VÀNG
Đặt cạnh bệnh nhân: Cây lược vàng có khả năng tẩy uế không khí ô nhiễm trong phòng, phóng thích những chất có ích cho việc điều trị các bệnh thuộc đường hô hấp. Nên đặt những chậu cây lược vàng bên cạnh chỗ nằm của bệnh nhân viêm phổi hoặc ung thư phổi.
Dạng dầu:
Cách 1: Lấy toàn cây lược vàng đem ép lấy dịch, bã còn lại đem phơi khô. Khi đã khô thì bẻ vụn ra ngâm trong dầu ô liu, đậy kín trong khoảng ba tuần. Sau đó trộn chung và lọc qua gạc mỏng, cho hỗn hợp dầu vào trong lọ thủy tinh màu, cất nơi mát.
Cách 2: Cắt cây lược vàng thành những mảnh nhỏ rồi cho hết vào một nồi chịu nhiệt, rót dầu thực vật vào nồi rồi đem bỏ vào lò hầm ở 40oC trong tám giờ. Sau đó lọc qua gạc mỏng, cho hỗn hợp dầu vào trong lọ thủy tinh màu, cất ở nơi mát.
Loại dầu này được dùng trị bệnh ngoài da hoặc để xoa chữa các chứng viêm khớp, cứng khớp hoặc bôi để xoa bóp giảm đau toàn thân.
Dạng thuốc mỡ:
Cắt nhỏ toàn cây và nghiền nát trong cối. Sau đó trộn với vaselin hoặc bột kem nhão để tạo thành một hỗn hợp theo tỷ lệ 2:3. Cho khối thuốc mỡ vào lọ thủy tinh màu, để nơi tránh ánh sáng.
Cách bào chế khác là ép lấy dịch chiết của cây và trộn với vaselin hoặc kem theo tỷ lệ 1:3, sau đó cũng cho vào lọ đậy kín, bảo quản nơi mát. Thuốc mỡ này được dùng để bôi lên các vùng da bị tê cóng, bầm tím, viêm loét da, và còn được áp dụng để chữa các trường hợp viêm khớp, cứng khớp và đau nhức.
Chú ý: Nên chọn những cây có ít nhất 9-10 đốt trở lên (không ngắn dưới 20cm), và có màu tím sậm vì lúc đó hàm lượng chất kích thích sinh học trong cây đạt mức tối đa.
Chất steroid trong cây chính là phytosterol. Chất này có hoạt tính estrogen, tác dụng sát khuẩn, chống xơ cứng và kháng ung thư. Cây lược vàng còn có khả năng tẩy uế không khí ô nhiễm trong phòng, phóng thích những chất có ích cho việc điều trị các bệnh thuộc đường hô hấp.

3. Trị bệnh bằng cây muồng trâu:

- Dùng lá và đọt tươi của cây Muồng Trâu rửa sạch rồi đâm nhuyễn lấy nước, sau đó pha với dung dịch kem thuốc điều trị bệnh lác nhãn hiệu KenTax  theo tỷ lệ 2/3 nước lá và đọt Muồng Trâu tươi với 1/3 dung dịch kem thuốc lác. Sau đó chấm bông gòn thoa hỗn hợp thuốc này vào vị trí những nơi bị vảy nến.



Chữa bệnh vẩy nến bằng các bài thuốc dân gian 

4. Kinh giới, rau má chữa vẩy nến

- Chữa bệnh vẩy nến bằng thuốc nam thì phải tùy vào từng thể trạng bệnh và cơ địa bệnh nhân mà cho gia giảm, vị thuốc khác nhau. Tuy nhiên bài thuốc chung cho bệnh này có thể dùng và rất hữu nghiệm những loại thuốc sau: Kinh giới, rau má, bồ công anh, ké đầu ngựa, cây trinh nữ, bạc sau, xích đồng, thổ phục linh, vỏ gạo, hạ khô thảo, kim ngân, khổ sâm, xác ve sầu, đơn đỏ..., mỗi thứ 10 - 12g. Đây là một thang thuốc uống trong 1 - 2 ngày. Ngay sau khi dùng mỗi thang thuốc uống xong phải lấy bã thuốc đun thêm ít nước và tắm, ngâm chân tay bằng nước thuốc đó để lớp da chết bong đi, tái tạo lớp da mới.
5. Bài thuốc của Tuệ Tĩnh: rễ cây núc nác 1 nắm, sinh địa 10 củ (trồng ở vườn) đều đập nát, thạch tín một ít, tán nhỏ, dấm chua 1 bát (200ml). Tất cả bỏ vào lọ, lấy bùn trát kín, đun cách thuỷ 10 giờ, rồi đem ra xức (ngửi). Không để thuốc vào mắt, mặt (thạch tín là thuốc độc bảng A). Nếu nổi vết đỏ, tròn bằng đồng tiền, ngứa, chảy nước vàng thì dùng: xương chó vàng 2 phần, vỏ trứng gà con so 1 phần, tóc rối 1 phần. Tất cả đốt ra tro, tán nhỏ, hoà dầu vừng, xát vào tổn thương. Ngày nay benhvienthongminh..com không áp dụng phương pháp cực khổ này mà muốn điều trị bệnh này rất tốn ít thời gian và cơ hội khỏi bệnh đến 90%.
6 .Chữa vẩy nến bằng lá ớt:
- Cách dieu tri vay nen bằng lá ớt:  Tinh tre đằng ngà cạo lấy một bát, lá ớt cay 1 nắm to (1 nắm chặt tay và đem sao chín nhưng không cháy), lá sống đời 7-9 lá, thiên niên kiện khoảng 300 g. Tất cả cho vào nồi với 2 lít nước, đun sôi kỹ, uống dần thay nước chè, uống chừng 3 ấm là khỏi.

VII. Những loại thức ăn hỗ trợ điều trị và phòng bệnh vẩy nến:

- Có nhiều nghiên cứu cho thấy một số loại thực phẩm có thể cải thiện bệnh tình người bị vẩy nến rất tốt mà người bệnh cần lưu ý: 
Rau quả có nhiều beta-caroten như bơ, cà rốt, đặc biệt là xoài, để bảo vệ cấu trúc mong manh của da.
- Cá biển loại có nhiều Omega-3 như cá hồi, cá thu, cá sa ba… Kết quả nghiên cứu cho thấy nếu dùng 150 g Omega-3 mỗi ngày trong nhiều ngày liên tục có thể giảm lượng thuốc corticosteroid đến phân nửa mà không mất hiệu năng của thuốc nhờ Omega-3 có tác dụng ức chế các chất sinh viêm trong bệnh vảy nến như leucotriene 3 và 5.
- Bông cải xanh (broccoli) để bổ sung axít folic là tác chất sinh học giữ vai trò quan trọng trong tiến trình tổng hợp kháng thể. Chất này lại rất dễ thiếu đối với người bị bệnh vảy nến.
- Nghêu, sò nhằm cung ứng kẽm, khoáng tố tối cần thiết không chỉ cho da mà cho sức đề kháng. Người bị vảy nến không nên có định kiến phải tránh hải sản vì sợ các món ăn này gây thêm ngứa ngáy. Quan điểm đó chỉ đúng nếu người bệnh đã dị ứng với hải sản trước đó.
- Mè đen vì vừa chứa dầu béo có cấu trúc tương tự Omega-3 vừa cung cấp sinh tố E cần thiết cho lớp sợi collagen dưới da

Chế độ dinh dưỡng đối với người bị vảy nến

- Đậu phụ và đậu nành: Ở thời kì mãn kinh và đặc biệt là khi mức giảm cụ thể của hóc môn estrogen, sẽ liên quan đến việc giảm mạnh mức độ collagen. Các nghiên cứu đã chỉ ra rằng hơn 30% của một loại collagen trong da sẽ bị mất trong 5 năm đầu tiên sau thời kì mãn kinh. Phụ nữ sau khi mãn kinh sẽ suy giảm hóc môn estrogen nghiêm trọng, đây là loại hóc môn sản sinh ra collagen. Vì vậy phụ nữ sau mãn kinh được khuyên nên bổ sung thêm các thực phẩm có chứa nhiều thành phần giúp tăng cường hóc môn etrogen
Rất thông dụng và phổ biến, đậu nành là loại thực phẩm rất dễ tìm và giá thành rẻ, trong đậu nành có nhiều chất phytoestrogens có tác dụng tương tự như estrogen. Các bạn nên tạo thói quen ăn nhiều đậu nành để cơ thể sản xuất collagen như bình thường sẽ giúp bạn có làn da đẹp và khỏe mạnh
- Quả việt quất
Quả Việt Quất


Thường xuyên bổ sung Vitamin C cho cơ thể, giúp bạn tránh được các bệnh về cảm cúm, hoặc các bệnh về máu do thiếu vitamin C. Ngoài ra Vitamin C là chất cần thiết để tạo nên collagen, giúp tăng cường mức độ chất chống oxy hóa trong cơ thể.
Vitamin C có nhiều trong các loại quả mọng, như quả việt quất, dâu tây... Các bạn nên bổ sung các loại quả này trong chế độ ăn hằng ngày.
Vitamin C là cần thiết để tạo nên collagen.
Rau quả màu đỏ
Cho dù có màu xanh hay đỏ, rau bina hay cà chua, rau quả màu đỏ cũng thuộc nhóm có khả năng thúc đẩy sản sinh collagen. Có thể kể đến củ cải đường, ớt, dưa hấu, nho đỏ. Rau củ màu đỏ chứa nhiều chất chống oxy hóa, nghĩa là chúng là những thực phẩm chống lão hóa tuyệt vời. Ngoài ra, chúng cũng thường giàu chất lycopene – giúp ngừa ung thư tuyến tiền liệt và giảm cholesterol.
Đối với da điều mà bạn sẽ thực sự thích về lycopene đó là nó giúp chống lại collagenase – những enzyme làm cho bạn trông già hơn bằng việc tiêu diệt collagen có trong cơ thể.
Đậu
Đậu được gọi  là “trái cây thần kỳ” vì chúng có chứa axit hyaluronic. Hãy nghĩ mà xem, axit hyaluronic có thể giữ nước, nghĩa là cung cấp nước cho da, giữ cho da đủ độ ẩm. Điều này giúp tăng độ đàn hồi cũng như sức khỏe của da, trả lại cho bạn một làn da săn chắc.
Để có hiệu quả tốt, bạn nên ăn ít nhất hai muỗng canh mỗi loại đậu hằng ngày.
Tỏi
Tỏi là gia vị cho cuộc sống tươi trẻ. Bạn đang tự hỏi không biết tỏi có tác dụng gì đối với collagen. Câu trả lời đó là sulfur. Bạn biết đấy, tỏi là một trong những thứ có nhiều sulfur. Collagen không thể tự sinh ra mà không có sulfur.
Cộng thêm axit lipoic cũng như taurine có trong tỏi và bạn có một thứ gia vị tuyệt vời. Mặt khác, hai loại axit này không thực sự sản sinh ra collagen nhưng chúng sẽ tái tạo lại chất xơ collagen đã bị phá hủy. Và có lẽ điều tuyệt nhất đó là tỏi sẽ mang lại cho bất kỳ món ăn nào của bạn một hương vị thật thơm ngon.
Cà Chua
Chúng ta đều biết cà chua chứa lượng lớn lycopene. Nhưng không phải ai cũng biết lycopene giúp loại bỏ men collagenases, một loại men phá hủy cấu trúc collagen. Để tận dụng hết lợi ích của cà chua, nên nấu chín hơn là ăn sống.

 Rau Có Màu Xanh Đậm
Các loại rau có lá màu xanh đậm được biết đến với sự giàu dinh dưỡng. Khi sử dụng các loại rau này hằng ngày, các tác nhân trong chúng giúp cho quá trình sản xuất collagen xảy ra nhanh hơn. Các loại rau điển hình mà chúng ta có thể sử dụng như cải pó xôi, măng tây và bông cải xanh. Các loại rau này không những giúp sản xuất collagen, chúng còn giúp cơ thể sử dụng collagen hiệu quả hơn.Nên tham khảo thêm các kiến thức khác về sức khỏe tại trang web benhvienthongminh..com
- Ăn uống hỗ trợ trị bệnh: Người bệnh vảy nến nên thường xuyên ăn cháo tang thầm, hồng táo: tang thầm (quả dâu tằm) 30g, hồng táo 10 quả, bách hợp 30g, gạo lức 100g. 3 vị trên cho nước ninh kỹ, sau khi bỏ bã cho gạo đã vo sạch vào nấu thành cháo. Ngày dùng 1 liều, ăn liền 1 tuần là một liệu trình, nghỉ 1 tuần, ăn tiếp và cứ ăn như thế đến khi bệnh thuyên giảm.
- Các thực phẩm từ Sữa. Giảm hoặc loại trừ các sản phẩm sữa, pho mai, kem và sữa chua trong chế độ ăn uống của bạn. Sữa góp phần tạo chất nhờn và làm trầm trọng thêm một số bệnh tự miễn. 

Tháp dinh dưỡng cơ bản

4.  Hạn chế:
- Kẻ thù của làn da là đường. Khi nói đến lão hóa, thực phẩm có đường hoặc các loại thực phẩm giàu tinh bột phân hủy thành đường sẽ là kẻ thù. (Rau và quả là những loại thực phẩm chứa lượng đường tự nhiên tuy nhiên lợi ích của nó là lớn hơn những nhược điểm mà nó mang lại).

- Thịt: vì chứa nhiều arachidon là chất xúc tác cho phản ứng viêm tấy. 
Nên lấy nguồn cung cấp protein cho cơ thể từ cá, ngũ cốc chưa qua chế biến (đậu xanh nguyên vỏ, gạo lức...)
- Rượu bia: vì độ cồn là đòn bẩy cho phản ứng thoái biến các loại chất đạm có tác dụng sinh dị ứng. Hơn nữa, tiến trình giải độc rượu của gan bị trì trệ rất nhiều ở người có cơ địa vảy nến.
- Đường: Giảm lượng đường trắng đã qua tinh chế cũng như frutose, đường từ ngô, mật ong và các chất làm ngọt khác. Hạn chế nước hoa quả ngọt và các loại hoa quả chứa nhiều đường.
- Tránh những thức ăn có men (yeast), các loại nước ngọt, trà đậm, cà phê thuốc lá, không ăn các chất cay nóng, mỡ heo, hạn chế ăn các loại chiên xào, các chất kích thích như ớt, tiêu...
- Tránh dùng những đồ nướng, rán: thịt, đậu, cá nướng rán vì có nhiều gốc tự do có thể làm tái phát bệnh vẩy nến.


VIII. Tổn thương do bệnh vảy nến
- Đặc trưng của bệnh là sự tăng sinh thượng bì, sự tăng sinh này luôn lành tính và thường kết hợp với sự rối loạn biệt hóa tế bào và sự sản xuất một số Cytokine, dẫn đến một tiến trình viêm. Kết quả của sự tăng sinh thượng bì tạo nên một lớp vảy dày và sự bong vảy không ngừng.
-Tổn thương cơ bản
- Đặc trưng bởi những dát hay mảng, giới hạn rõ, màu đỏ, được phủ bởi lớp vảy dày.
- Lớp vảy: có giới hạn rõ, màu trắng bẩn, đục hay vàng óng ánh như mica. Lớp vảy có thể che phủ toàn bộ tổn thương vảy nến hoặc chỉ phủ ở phần trung tâm. Bề mặt của vảy đôi khi không đều, lớp vảy được cấu tạo bởi những phiến vảy mỏng, khô, kích thước và độ dày khác nhau, tách ra tự nhiên hay do va chạm khi thay áo quần.
- Đỏ da: lớp da đỏ có giới hạn rõ, nhẵn, khô, biến mất khi đè, mềm và hơi gồ lên so với xung quanh.
Thể da đỏ
Thể mưng mủ vàng

- Vị trí khu trú: tổn thương khu trú khắp cơ thể, có tính đối xứng, nhưng hay gặp nhất là vùng tỳ đè: khuỷu tay, đầu gối, vùng thắt lưng cùng và đầu.
- Ngứa: thường gặp với 25% trường hợp.
- Dùng thìa nạo cạo nhẹ trên bề mặt các tổn thương vảy nến từ 30 – 150 lần, ta sẽ thấy lần lượt các dấu hiệu sau: vết đèn cày; dấu vảy hành; giọt sương máu.
IX. Tiến triển
- Vảy nến là bệnh da khó điều trị, tiến triển từng đợt và thường tái phát. Những giai đoạn khỏi bệnh kéo dài từ vài tháng đến vài năm làm người bệnh nghĩ là bệnh đã lành hẳn, đôi khi giữa các đợt tái phát vẫn còn ít tổn thương ở đầu gối, khuỷu tay và đầu gọi là thành trì của vảy nến.
- Sự thoái lui của bệnh vảy nến theo nhiều cách khác nhau, có thể lành ở trung tâm tổn thương nhưng bờ lại lan rộng . Thương tổn vảy nến khi thoái lui thường không để lại sẹo nhưng để lại những dát giảm sắc, đôi khi là những dát tăng sắc được bao quanh bởi một vòng trắng da.
X. Biến chứng đáng sợ:
- April Armstrong, phó giáo sư da liễu tại UC Davis và điều tra viên chính của nghiên cứu này, và nhóm của bà đã xem xét tổng cộng 27 nghiên cứu đối với các bệnh nhân vẩy nến. Nghiên cứu tiến hành theo dõi sự phát triển của bệnh tiểu đường
 trong vòng từ 10 đến 22 năm. Qua đó tiến hành đánh giá tỷ lệ mắc bệnh tiểu đường ở thời điểm bắt đầu nghiên cứu. Tổng cộng họ đã kiểm tra hơn 314.000 người có bị vẩy nến và so sánh chúng với 3,7 triệu người không có bệnh.Hiện tại ở Việt Nam đã có benhvienthongminh.com, bạn sẽ sớm chấm dứt đau khổ vì bệnh này nếu được điều trị bởi các chuyên gia tại đây.

- Kết quả nghiên cứu cho thấy: những bệnh nhân bị vẩy nến nhẹ có khả năng phát triển bệnh tiểu đường cao gấp 1,5 lần so với những người không bị vẩy nến. Và những bệnh nhân bị vẩy nến nặng có nguy cơ phát triển bệnh tiểu đường cao gấp 2 lần so với những người bình thường.

- Nghiên cứu đánh giá phổ biến được tìm thấy bệnh nhân với bệnh vẩy nến có 27% nguy cơ cao mắc bệnh tiểu đường, so với công chúng.
- Bệnh vảy nến là một căn bệnh khá nguy hiểm với những biến chứng để lại khá nặng nề cho người bệnh. Ngoài những triệu chứng thường xuyên được nhắc tới thì rất nhiều trường hợp bệnh nhân vảy nến bị biến chứng viêm khớp và có đến 42% bệnh nhân vảy nến bị biến chứng viêm khớp gây ra nhiều khó khăn cho bệnh nhân trong cuộc sống hàng ngày.
- Nếu như bệnh nhân mắc bệnh viêm khớp vảy nến không được điều trị sớm sẽ gây ra cho bệnh nhân những hệ lụy đáng tiếc như tiểu đường, tim mạch, bện lupus, bệnh béo phì và có thể dẫn đến tử vong cho bệnh nhân mắc phải nó.

nếu để lâu bạn bị tiểu đường và lỡ loét

Viêm khớp nằm liệt không cử động được


- Hầu hết những bệnh nhân bị bệnh vảy nến trước viêm khớp từ vài  tháng đến nhiều năm. Viêm khớp thường xuyên liên quan đến đầu gối, mắt cá chân, và khớp xương ở bàn chân. Sưng khớp là dấu hiệu phổ biến và thường trở nên tồi tệ hơn vào sáng sớm. Bệnh nhân mắc bệnh viêm khớp vảy nến có thể gây nhiều biến chứng nguy hiểm cho bệnh nhân.

 - Bạn bị vẩy nến hay muốn phòng ngừa bệnh này hãy áp dụng ngay các phương pháp trên vì tương lai và cuộc sống cho chính bản thân mình. Nếu bị thể nặng hãy liên lạc với benhvienthongminh..com để được điều trị sớm nhất tránh gây ra các bệnh khác do biến chứng lâu ngày.



bệnh này rất dễ trị nếu có bí quyết và am hiểu về bệnh lý, tùy theo cơ địa mỗi người mà có phương pháp điều trị khác nhau, trên thế gian này không có 1 loại thuốc mà chữa cho tất cả mọi người, chúng tôi với nhiều năm kinh nghiệm đã chữa khỏi cho rất nhiều người. Với phương pháp thảo dược thiên nhiên 100% từ nhiều nguồn ở Việt nam và trên thế giới, chúng tôi tự hào cam kết hoàn tiền 100% nếu sau 1 liệu trình mà bệnh không thuyên giảm. Dừng đi tìm đâu xa để tốn thời gian và tiền bạc. Vui lòng liên hệ với chúng tôi để gặp chuyên gia về bệnh này tư vấn: 0935141438- Mr Lâm. 



Thứ Sáu, 18 tháng 7, 2014

Điều kỳ diệu từ khoai lang

http://www.benhvienthongminh..com
I.                    Lợi Ích của khoai lang trong việc phòng chữa bệnh

 -  Theo Đông y, khoai lang có nhiều tên như: Cam thử, Phiên chử. Củ khoai lang tính bình, vị ngọt, vào hai kinh tỳ và thận.
Tác dụng bồi bổ cơ thể, ích khí, cường thân, kiện vị, tiêu viêm, thanh can, lợi mật, sáng mắt; chữa vàng da, ung nhọt, viêm tuyến vú, phụ nữ kinh nguyệt không đều (dùng trước kỳ kinh), nam giới di tinh, trẻ em cam tích, lỵ.


-  Khoai lang, tiếng Mỹ được goi là sweet potatoes (tên khoa học: Ipomoea batatas), là một phần của thực phẩm không thể thiếu trong Lễ Tạ Ơn. Trong hệ thống phân loại, khoai lang có “họ hàng” với khoai tây-potato (Solanum tuberosum) cùng có nguồn gốc từ Nam Mỹ. Lịch sử khoai lang trên thế giới là một trong những loại lương thực lâu đời nhất được biết của con người. Ngày nay những nghiên cứu khoa học cho thấy khoai lang không chỉ có giá trị dinh dưỡng cao mà có những công dụng phòng chữa bệnh tốt và là một trong những thực phẩm tạo miễn dịch tốt cho cơ thể.

-  Protein duy nhất có hiệu quả chống oxy hóa (Antioxidant)
-  Khoai lang chứa loại protein độc đáo có khả năng đáng kể antioxidant. Nghiên cứu cho thấy các protein có khoảng một phần ba hoạt tính antioxidant của glutathione - một trong những sản phẩm quan trọng của cơ thể có vai trò trong việc tạo antioxidants trong cơ thể. Mặc dù còn cần nhiều nghiên cứu trong tương lai nhưng những protein này đã giúp giải thích về những đặc tính chữa bệnh của củ khoai.

- Trong hệ thống xếp hạng thực phẩm cho thấy khoai lang là loại thực phẩm truyền thống giàu chất dinh dưỡng. Củ khoai như là một nguồn tuyệt vời của vitamin A (dưới dạng beta-caroten) , một nguồn đáng kể của vitamin C và mangan, trong khoai còn có sản phẩm đồng, một nguồn chất xơ rất tốt cho cơ thể, lượng cao vitamin B6, kali và sắt. Những dinh dưỡng của khoai lang giúp cho sức khỏe như thế nào.benhvienthongminh..com mời bạn ghé qua tham quan và hợp tác.




- Qua phân tích xét nghiệm cho thấy trong củ khoai lang giàu vitamin A (beta carotene), vitamin C và vitamin B6 có ích cho hệ miễn dịch trong cơ thể và ngừa bệnh viêm nhiễm rất hiệu quả, những thành phần dinh dưỡng này làm giảm thiểu nguy cơ bị bệnh tim mạch và đột quỵ, các dạng protein trong khoai lang còn có tác dụng giúp chữa mau lành các vết thương. Trong hình các loại khoai đang được nghiên cứu và trồng trọt trong trung tâm khoai quốc tế tại Lima, Peru. (Hình: Ernesto Benavides/AFP/ Getty Images)


- Giàu chất Antioxidant, thực phẩm chống viêm. Với lượng đáng kể vitamin A (dưới dạng beta-caroten) và vitamin C, khiến khoai lang là thực phẩm chống viêm nhiễm có tác dụng phòng và chữa trị bệnh. Cả hai dạng beta-caroten và vitamin C có tiêm năng lớn antioxidants giúp hiệu quả cho cơ thể loại bỏ các gốc tự do. Thành phần các gốc tự do có hóa chất gây thiệt hại cho các tế bào và màng tế bào và chúng kết hợp với sự phát triển của các điều kiện như bệnh vữa xơ động mạch (atherosclerosis), bệnh tiểu đường, bệnh tim, ung thư ruột. Ðiều này có thể giải thích tại sao cả beta-caroten và vitamin C giúp ích hiệu quả để ngăn ngừa các gốc tự do.

-  Từ những chất dinh dưỡng chống viêm, khoai lang có thể hữu ích trong việc giảm những khả năng phát sinh những bệnh viêm nhiễm, ví dụ như bệnh suyễn, viêm khớp (osteoarthritis) , và viêm đa khớp dạng thấp (rheumatoid arthritis.) Ngoài ra, khoai lang là một nguồn vitamin B6, là cần thiết để chuyển đổi homocysteine, một sản phẩm trong tiến trình tạo ra acid amin quan trọng trong các tế bào gọi là methylation thành các phân tử không gây hại. Khi homocysteine cao có liên quan làm tăng nguy cơ đau tim và đột quỵ.
-  Trong một số quốc gia khu vực nhiệt đới, nó là loại lương thực chủ yếu. Cùng với tinh bột, củ khoai lang cũng chứa nhiều xơ tiêu hóa, vitamin A, vitamin C và vitamin B6. Tất cả các giống đều cho củ có vị ngọt, dù nhiều hay ít. Mặc dù có vị ngọt, nhưng khoai lang trên thực tế là thức ăn tốt cho những người bệnh tiểu đường, các nghiên cứu cho thấy nó hỗ trợ cho sự ổn định nồng độ đường trong máu và làm giảm sức kháng insulin.

Trồng trọt khoai lang trên thế giới:
-  Hiện nay có trên 100 giống khoai lang. Khoai lang trở thành phổ biến từ rất sớm tại các đảo trên Thái Bình Dương, từ Nhật Bản tới Polynesia.
Ngày nay, khoai lang được trồng rộng khắp trong các khu vực nhiệt đới và ôn đới ấm với lượng nước đủ để hỗ trợ sự phát triển của nó. Theo số liệu thống kê của FAO sản lượng toàn thế giới là hơn 130 triệu tấn trong đó phần lớn tại Trung Quốc với sản lượng khoảng xấp xỉ 100 triệu tấn.





Tháng qua, khi thu hoạch khoai lang trên ruộng nhà, ông Khalil Semhat ở Libăng đã phát hiện được củ khoai nặng 24.9 pounds (trong hình). Trong ruộng trồng khoai lang, ông không dùng phương pháp cải biến giống và cũng không dùng phân bón hóa học và thuốc trừ sâu. Ông cho biết sẽ làm các thủ tục để củ khoai lang vĩ đại này được ghi vào sách kỷ lục (Guinness). (Hình: AFP/Getty Images)


Khoai lang ở Hoa Kỳ:
-  North Carolina là bang đứng đầu về sản xuất khoai lang, hiện nay cung cấp 40% sản lượng khoai lang hàng năm của Hoa Kỳ. Tiếp theo là Mississippi. Khoai lang từ Mississippi đóng góp khoảng 19 triệu Mỹ kim vào nền kinh tế của bang này, hiện nay có khoảng 150 trang trại ở Mississippi trồng khoai lang. Năm quận đứng đầu canh tác khoai lang ở Mississippi là Calhoun, Chickasaw, Pontotoc, Yalobusha và Panola. Lễ hội khoai lang quốc gia (Hoa Kỳ) được tổ chức hàng năm tại Vardaman vào tuần đầu tiên của tháng 11, và Vardaman được gọi là “The Sweet Potato Capital”
Thị trấn Benton, Kentucky kỷ niệm khoai lang hàng năm cùng với Lễ hội Ngày Tater vào thứ hai đầu tiên của tháng 4.
-  Khoai lang đã từng là một phần quan trọng trong khẩu phần ăn tại Hoa Kỳ trong phần lớn lịch sử của quốc gia này, đặc biệt là tại khu vực Ðông Nam. Củ khoai lang thường được luộc, rán hay nướng. Chúng cũng có thể được chế biến thành tinh bột và có thể thay thế một phần cho bột mì. Trong công nghiệp, người ta dùng khoai lang làm nguyên liệu sản xuất tinh bột và cồn công nghiệp.Candied sweet potatoes (khoai lang tẩm đường) là món ăn phụ, được làm chủ yếu từ khoai lang, đường, kẹo dẻo, xi rô phong, mật đường hay các thành phần có vị ngọt khác. Nó thường được dùng trong lễ Tạ Ơn, nó là tiêu biểu cho ẩm thực truyền thống và thức ăn của người thổ dân.
Sweet potato pie (Bánh nướng khoai lang) cũng là một món ăn truyền thống được ưa thích trong ẩm thực miền nam Hoa Kỳ.benhvienthongminh..com có rất nhiều tài liệu để bạn phòng bệnh.
Baked sweet potatoes (Khoai lang nướng) tại Hoa Kỳ đôi khi cũng được dùng trong các nhà ăn như là sự thay thế cho khoai tây nướng. Thông thường, tại đây nó được phủ bằng đường nâu hay bơ.


Khoai lang ở Trung Quốc:
-  Trung Quốc là quốc gia trồng nhiều khoai lang nhất; chiếm tới 80% sản lượng toàn thế giới. Nó là đặc trưng trong nhiều món ăn ở Nhật Bản, Ðài Loan, Philippines và các quốc gia khác. Indonesia, Việt Nam, Ấn Ðộ cùng một số quốc gia Châu Á khác cũng là các quốc gia trồng nhiều khoai lang. Uganda (quốc gia đứng thứ ba sau Indonesia), Rwanda và một số quốc gia Châu Phi khác cũng trồng nhiều khoai lang do nó là một thành phần quan trọng trong khẩu phần ăn tại các quốc gia này. Bắc và Nam Mỹ, quê hương của khoai lang nhưng ngày nay chỉ chiếm không quá 3% sản lượng toàn thế giới. Châu Âu cũng có trồng khoai lang, nhưng sản lượng không đáng kể, chủ yếu tại Bồ Ðào Nha.
  
Chiết suất từ khoai lang trắng có thể trị bệnh tiểu đường:
- Khoai lang trắng thường mọc ở vùng đồi núi. Chiết suất thành phần Caiapo từ củ khoai lang trắng có thể kiểm soát tốt lượng đường máu và cholesterol trong bệnh tiểu đường type 2. Chất này đã được Nhật Bản điều chế thành dược phẩm bổ sung dành cho bệnh nhân tiểu đường. Nghiên cứu tại Ðại học Vienna (Áo), đã tìm hiểu phương thức hoạt động và tính hiệu quả của Caiapo từ khoai lang tử nghiệm trên những người mắc bệnh tiểu đường type 2, với liều dùng trong vòng 12 tuần. Kết quả cho thấy, khi điều trị bằng Caiapo chiết từ khoai lang đã làm giảm lượng hemoglobin A-1c (HbA1c) là yếu tố chỉ định lượng đường máu dư thừa. Lượng đường máu ở nhóm sử dụng Caiapo từ khoai lang cũng giảm hơn nhiều Ngoài ra, lượng cholesterol trong máu cũng giảm. Các kết quả trên chứng tỏ Caiapo chiết suất từ khoai lang là chất kiểm soát bệnh tiểu đường type 2 rất hiệu quả mà không gây ra một phản ứng phụ cho người bệnh, đây là một dược liệu mới cho bệnh nhân tiểu đường.

Cũng sản xuất ethanol:
- Một phát hiện của các nhà khoa học thuộc trường đại học North Carolina cho biết khoai lang có thể là nguyên liệu lý tưởng để sản xuất ethanol, và nhờ vậy ngành sản xuất nhiên liệu sinh học có thể bớt sử dụng ngô.
Nghiên cứu cho biết họ đang đạt được nhiều tiến bộ trong việc phát triển loại khoai lang công nghiệp có vỏ màu tía hoặc trắng, ruột màu trắng (khác khoai ăn thông thường có màu cam, vàng), chứa nhiều tinh bột và không quá ngọt. Loại khoai dùng trong công nghiệp này có thể sản sinh ra lượng ethanol nhiều hơn so với ngô tính theo trọng lượng. Hiện ở Hoa kỳ và Brazil người ta đã sử dụng nhiên liệu ethanol sản xuất từ ngô và mía để phần nào thay cho xăng. Nhưng nhu cầu ethanol lại đẩy giá thực phẩm tăng cao. Trong khi đó, việc sản xuất ethanol từ khoai lang rẻ hơn nhiều, và đặc biệt không gây ảnh hưởng tới nguồn cung cấp lương thực của thế giới. Trung Quốc là nơi trồng trọt khoai lang hàng đầu thế giới.

II.               Lợi ích của khoai lang đối với sức khỏe


 Khoai lang là một trong những loại thực phẩm quen thuộc đối với người Việt Nam. Giá trị dinh dưỡng của khoai lang rất cao và được các nhà khoa học đánh giá là rất tốt cho sức khỏe.


-  Dưới đây là những lợi ích tuyệt vời mà khoai lang mang lại cho sức khỏe của chúng ta.

1. Phòng ngừa bệnh ung thư
-  Màu cam trên vỏ khoai lang là dấu hiệu cho thấy mức carotene rất cao của loại củ này. Nhóm chất carotene giúp tăng thị lực, thúc đẩy hệ miễn dịch, chống oxy hóa và ngăn ngừa lão hóa. Một nghiên cứu do ĐH Harvard (Mỹ) thực hiện trên 124.000 người cho thấy, những người tiêu thụ thức ăn giàu carotene trong chế độ ăn uống thường xuyên của mình giảm tới hơn 32% nguy cơ ung thư phổi.

-  Ngoài ra, những phụ nữ có nồng độ carotene cao nhất có nguy cơ tái phát ung thư vú thấp nhất. Đây là kết luận được các nhà khoa học từ WHEL (Women’s Healthy Eating and Living) đưa ra sau khi tiến hành nghiên cứu trên những phụ nữ hoàn tất giai đoạn đầu điều trị căn bệnh này.


-  Lượng vitamin A và C dồi dào trong khoai lang góp phần ngăn ngừa nhiều bệnh ung thư khác nhau. Các kết quả nghiên cứu khoa học trên thế giới đã cho thấy chất sắt chống ôxy hóa Antoxian có nhiều trong tinh bột của khoai lang, có tác dụng giảm tác động nguy hiểm của kim loại nặng và các gốc ôxy hóa tự do đối với cơ thể.

2. Chống viêm nhiễm
-  Khoai lang có khả năng chống lại sự viêm nhiễm rất tốt vì nó chứa nhiều vitamin C, vitamin B6, beta carotene và mangan. Các nhà khoa học trên thế giới đã tìm ra tác dụng giảm viêm nhiễm trong mô não và mô thần kinh ở khắp cơ thể khi chúng ta ăn khoai lang thường xuyên.
3. Phòng ngừa bệnh viêm khớp
-  Chất beta cryptoxanthin dồi dào trong khoai lang có tác dụng phòng ngừa các bệnh viêm nhiễm mạn tính như viêm khớp, thấp khớp. Ngoài ra, beta cryptoxanthin còn giúp tăng cường độ chắc khỏe của xương, tăng cường hệ miễn dịch và làm đẹp da. Các kết quả nghiên cứu khoa học trên thế giới cho thấy việc tiêu thụ nhiều chất beta cryptoxanthin giúp giảm 50 % tỷ lệ phát triển của bệnh viêm khớp. Thêm vào đó, vitamin C có trong khoai lang còn giúp duy trì collagen và giảm thiểu tỉ lệ phát triển của bệnh viêm khớp.
4. Cân bằng lượng đường trong máu
-  Chất carotenoid trong khoai lang có thể giúp cho cơ thể cân bằng lượng đường trong máu. Lượng chất xơ hòa tan có trong khoai lang còn hỗ trợ việc hạ thấp lượng đường và cholesterol trong máu. Chất  axít chlorogenic cũng có thể giúp tăng cường khả năng chống nhiễm khuẩn, ngăn ngừa tổn thương DNA và các chất liệu di truyền khác…
5. Điều trị bệnh loét dạ dày
-  Khoai lang còn có khả năng làm dịu nhẹ và điều trị bệnh loét dạ dày vì nó chứa nhiều vitamin B, vitamin C, potassium, beta carotene và canxi. Chất xơ có trong khoai lang giúp phòng ngừa bệnh táo bón và kiểm soát nồng độ axít trong dạ dày nên cũng góp phần làm giảm các cơn đau và viêm loét dạ dày.
6. Phòng ngừa bệnh khí phế thũng
-  Khoai lang có thể cung cấp vitamin A cho cơ thể. Các nhà nghiên cứu khoa học trên thế giới cho rằng, những người hút thuốc nên hấp thu nhiều vitamin A vì bệnh khí phế thũng và các bệnh về phổi có thể xảy ra khi cơ thể thiếu hụt vitamin A do việc hút thuốc gây ra.
7. Tốt cho bộ máy tiêu hóa
-  Khoai lang là nguồn cung cấp chất xơ rất tốt, giúp thúc đẩy hệ thống tiêu hóa hoạt động hiệu quả. Các nghiên cứu còn cho thấy chất xơ có tác dụng làm sạch các kim loại nặng trong bộ máy tiêu hóa như Asen và thủy ngân.
8. Chống lại gốc tự do
-  Gốc tự do là những loại hóa chất có thể gây tổn hại cho tế bào cơ thể. Những nghiên cứu mới đã khám phá ra rằng có những loại protein trong khoai lang có khả năng chống ôxy hóa (antioxidant) rất cao.

-  Những protein này chứa khoảng 1/3 lượng chất chống ôxy hóa quan trọng nhất có trong cơ thể là glutathione.
-  Nhờ chứa một hàm lượng cao vitamin A và vitamin C, khoai lang có thể ngăn ngừa sự tổn thương tế bào, chống lại những gốc tự do trong cơ thể. Sự hình thành các gốc tự do được xem là nguyên nhân dẫn đến các bệnh như xơ cứng mạch máu, tiểu đường, tim mạch, ung thư..
9. Mắt sáng, da khỏe

Khoai lang là nguồn cung cấp vitamin C dồi dào, giúp ngăn ngừa cảm lạnh và virus cúm. Đồng thời, vitamin C cũng rất cần thiết cho xương và răng, tốt cho hệ tiêu hóa và quá trình hình thành các tế bào máu. Ngoài ra, vitamin C còn góp phần chữa lành vết thương, tạo ra collagen giữ cho làn da luôn tươi trẻ, giảm stress và bảo vệ cơ thể khỏi những độc tố có nguy cơ gây ung thư cao. Beta carotene là tiền chất của vitamin A trong cơ thể người. Vitamin A duy trì đôi mắt sáng và làn da khỏe mạnh.

10. Chữa say tàu xe

- Người hay bị say tàu xe có thể nhai nuốt cả nước và bã củ khoai lang tươi khi đi xe sẽ thấy tác dụng rõ rệt. Tuy nhiên không nên ăn quá nhiều khoai lang sống vì dễ bị đau bụng, nôn mửa, ỉa chảy.
11. Khoai lang giúp giảm cân

-  Khoai lang cũng là sự lựa chọn số 1 cho những người muốn giảm béo. Năng lượng có trong khoai lang rất ít, chỉ bằng 1/3 so với cơm và 1/2 so với khoai tây. Loại củ này không chứa chất béo và cholesterol, ngăn ngừa quá trình chuyển hoá đường trong thức ăn thành mỡ và chất béo trong cơ thể. Ăn khoai lang trước bữa ăn sẽ tạo cảm giác no bụng, vì thế sẽ giảm được lượng thức ăn hấp thụ trong bữa ăn chính.


12. Kích thích tiêu hóa, chữa táo bón

-  Cách đơn giản nhất là ăn khoai lang luộc. Ăn khoai lang ở mức độ vừa phải (100 g/ngày) rất có lợi cho hệ tiêu hoá vì thành phần vitamin C và các acid amin giúp kích thích nhu động ruột, làm quá trình tiêu hoá thức ăn trở nên nhanh hơn, ngăn ngừa tình trạng táo bón.
-  Ngoài ra, để chữa táo bón còn có thể uống nước khoai lang luộc (phải rửa sạch vỏ). Tuy nhiên, ăn quá nhiều khoai lang cũng sẽ gây ra đầy bụng, khó tiêu.
13. Mặt nạ trắng da từ khoai lang:
 - Luộc khoai lang lên, để nguội và sau đó nghiền nát chúng. Thêm một muỗng canh mật ong và thoa hỗn hợp này lên khuôn mặt của bạn. Hãy để yên trong 20-30 phút và sau đó rửa sạch lại.
Chú ý: Bạn cũng có thể thêm 2-3 muỗng cà phê nước cốt chanh trong trường hợp bạn có làn da nhờn.
Đây là phương pháp làm trắng da rất đơn giản phải không? Cùng thử nghiệm với công thức tắm trắng này nhé.


III.             Liệu ăn có nhiều khoai lang có tốt?

-  Ăn khoai lang ở mức độ vừa phải sẽ rất có lợi cho hệ tiêu hoá. Nhưng nếu ăn quá nhiều lại dẫn đến hậu quả ngược lại. Khi cơ thể không kịp tiêu hoá hết, các axit và protein trong khoai lang sẽ tích tụ trong dạ dày, dẫn tới đầy bụng, khó tiêu, nấc, ợ nóng, thậm chí là tiêu chảy.
 -  Nguyên nhân là do phản ứng của axit tiêu hoá, thành dạ dày bắt đầu co lại, đồng thời điểm tiếp giáp giữa dạ dày và thực quản mở rộng làm cho thức ăn dồn lên phía trên gây ợ chua và nấc nghẹn.

IV.             Chế biến khoai lang theo cách nào tốt nhất?

- Các axit amin, protein và enzym tiêu hoá trong khoai lang sẽ hầu như đươc giữ nguyên khi chế biến bằng phương pháp luộc và hấp. Cũng cần lưu ý rằng, không nên luộc hoặc hấp khoai lang quá kỹ vì lượng chất dinh dưỡng mất đi sẽ tỷ lệ thuận với thời gian chế biến.

-  Nên hạn chế dùng khoai lang vào các món chiên xào vì khi đó, các enzym tiêu hoá sẽ bị phá huỷ, đồng thời protein sẽ kết hợp với dầu mỡ sẽ biến thành chất rất khó tiêu hoá dẫn tới đầy bụng, khó tiêu.

-  Tuyệt đối không nên ăn khoai lang khi còn sống vì khi đó, các vi khuẩn vẫn chưa bị tiêu diệt sẽ gây tiêu chảy.

-  Bạn cũng nên hạn chế nướng khoai vì khói và bụi than sẽ bám vào vỏ khoai gây mất vệ sinh. Vi khuẩn theo đó cũng xâm nhập vào cơ thể dễ dàng hơn.

V.                Khoai lang “kỵ” với thực phẩm nào nhất?
 -  Đó chính là quả hồng. Vì khi kết hợp 2 loại thực phẩm này, lượng đường trong khoai lang sẽ lên men trong dạ dày, từ đó làm tăng việc tiết axit dịch vị. Các men axit này kết hợp với chất tannin có trong quả hồng gây ra phản ứng tạo chất kết tủa, gây hại cho dạ dày. Lâu ngày có thể dẫn tới chảy máu hoặc viêm loét dạ dày. 

VI.             Nên ăn khoai lang vào thời điểm nào?
 -  Bữa trưa là thời điểm lý tưởng để lựa chọn món khoai lang cho mình. Vì hàm lượng can-xi trong khoai lang sau khi vào cơ thể cần tới 4-5h mới được cơ thể hấp thụ hết. Mặt khác, ánh sáng mặt trời buổi chiều rất tốt cho sự thúc đẩy sự hấp thụ can-xi của cơ thể. Khi cơ thể hấp thụ hết lượng can-xi cần thiết cũng là lúc cảm thấy hào hứng với bữa tối.
-  Tuy nhiên, ăn nhiều đường vào cơ thể cũng không tốt nên bạn đừng cố tình để khoai lang dự trữ thật lâu rồi mới ăn. Hơn nữa, bạn cũng cần lưu ý, khoai lang để lâu dễ mọc mầm khi ăn sẽ độc hại, không tốt cho cơ thể.

VII.         Một số điểm lưu ý khi dùng khoai lang:

- Để có tác dụng bổ dưỡng, nên ăn khoai vỏ đỏ ruột vàng. Để giải cảm và chữa táo bón, phải dùng khoai vỏ trắng ruột trắng.

- Không ăn thường xuyên rau lang vì nó chứa nhiều canxi, có thể gây sỏi thận.

- Nên ăn kèm đạm động vật, thực vật để cân bằng thành phần dưỡng chất.

- Trong khoai lang có chất đường, nếu ăn nhiều, nhất là khi đói sẽ gây tăng tiết dịch vị làm nóng ruột, ợ chua, sinh hơi trướng bụng. Để tránh tình trạng này, khoai phải được nấu, luộc, nướng thật chín hoặc cho thêm ít rượu vào nấu để phá hủy chất men. Nếu bị đầy bụng, có thể uống nước gừng để chữa.

- Vỏ khoai lang chứa nhiều vitamin và khoáng chất. Do đó phải bảo vệ phần vỏ không bị sây sát, không gọt vỏ nếu không cần thiết. Vỏ còn giúp bảo vệ dưỡng chất bên trong, vì vậy khi luộc khoai nên để cả vỏ (đã rửa sạch).

- Bảo quản khoai ở nơi sạch sẽ, khô ráo, thoáng mát, không có chuột bọ và chỉ nên dùng trong vòng một tuần.

- Phải bỏ hết khoai hà (sùng), khoai đã có mầm và vỏ xanh chứa chất độc.

- Khi luộc rau lang để ăn và chữa bệnh, nên lấy nước thứ hai vì nước thứ nhất thường chát và hăng.

Tác dụng khác đáng nể của rau lang:
-  Rau lang tính bình, vị ngọt, không độc, bổ hư tổn, ích khí lực, kiện tỳ vị, tư thận âm. Chữa tỳ hư, kém ăn, thận âm bất túc. Kiêng kỵ với các trường hợp thấp trệ, tiêu chảy, viêm dạ dày đa toan, đường huyết thấp.
Trị mụn: Lá khoai lang giúp hút mủ nhọt đã vỡ bằng cách dùng lá khoai lang non, đậu xanh, thêm chút muối và giã nhuyễn, bọc vào vải đắp vào vết mụn.

Quáng gà: Lá khoai lang non xào gan gà hoặc gan lợn.

Thiếu sữa: Lá khoai lang tươi non 250 g, thịt lợn 200 g thái chỉ. Xào chín mềm, thêm gia vị.
Thận âm hư, đau lưng mỏi gối: Lá khoai lang tươi non 30 g, mai rùa 30 g, sắc kỹ lấy nước uống.
Phụ nữ băng huyết: Rau lang tươi một nắm giã nát, lấy nước cốt uống.
Nhuận tràng: Rau lang tươi luộc chín có tác dụng nhuận tràng. Rau lang có vị ngọt, mát, nhờ chứa nhiều chất xơ nên giúp nhuận tràng rất hay. Lá rau lang còn chứa chất nhựa tẩy khoảng 1,95% – 1,97% nên có tác dụng nhuận trường.
Trị buồn nôn, ốm nghén: Trong rau lang chứa nhiều vitamin B6, có tác dụng giảm buồn nôn đối với phụ nữ mang thai trong thời kỳ đầu (thường bị ốm ghén), hoặc hay nôn ọe, ăn uống không ngon hoặc chán ăn.
Tốt cho người mắc bệnh tiểu đường: Trong các bữa ăn của người bệnh tiểu đường, nên thường xuyên dùng món rau lang luộc. Lá rau lang có đặc tính giảm đường huyết. Nên dùng rau, không dùng củ vì củ chứa nhiều tinh bột.

Đọt rau lang đỏ có chứa một chất gần giống insulin, ở lá già không có chất này.Vì thế người bị bệnh tiểu đường có thể dùng đọt rau lá non cây khoai lang để ăn.
Thanh nhiệt, giải độc: Trong những ngày trời nắng nóng, hoặc cơ thể đang bị nhiệt (nóng), nên dùng rau lang trong bữa ăn, vì rau lang có tính thanh nhiệt, làm mát.
Những lưu ý khi ăn rau :
- Không nên dùng khoai lang (củ và rau) lúc quá đói vì khi đó đường huyết đã thấp, lại làm hạ thêm gây mệt mỏi.
Để nhuận tràng (chữa táo bón) thì dùng rau lang tươi luộc chín, không dùng rau lang còn sống vì sẽ có tác dụng ngược lại là gây táo bón. Cũng không nên dùng rau lang quá nhiều mà nên dùng xen kẽ với những loại rau khác.
Không ăn thường xuyên rau lang vì chứa nhiều calci có thể gây sỏi thận.

- Nên ăn kèm đạm động vật, thực vật để cân bằng thành phần dưỡng chất.
Khi luộc rau lang để ăn và chữa bệnh, nên lấy nước thứ hai vì nước thứ nhất thường chát và hăng.

- Khoai lang và rau lang rất tốt để phòng bệnh và chữa một số bệnh nhẹ, nếu bị bệnh bạn có thể áp dụng các lợi ích của khoai lang để phục hồi sức khỏe của mình. Nhưng ăn dài hạn và áp dụng triệt để lợi ích của khoai và rau lang mà không khỏi bệnh thì cơ thể bạn còn nhiều vấn đề khác cần hỏi ngay chuyên gia hoặc Bs ở benhvienthongminh..com để được tư vấn chữa bệnh tận gốc. Giải quyết được cái gốc của vấn đề bạn sẽ hết bệnh và khỏe mạnh, sau khi hết bệnh rồi phải tiếp tục ăn khoai để phòng bệnh không lo tái phát nhe. Chúc các bạn khỏe mạnh và thành công.